BucHoaChetNguoi-PNTuy

  

 

 

 

                                    BỨC HỌA CHẾT NGƯỜI

 

                                      Bằng cách cắn vào những ngón tay tôi

                                       Điều độc ác theo đường này đến

 

 

 

 

 

                    Cuốn sách này dành tặng cho những bạn đọc từ những miền khác nhau viết thư cho tôi hỏi: “ chuyện ǵ đă xảy ra với Tommy và Tuppence? Bây giờ họ đang làm ǵ? ‘’

                    Lời cầu chúc tốt nhất tôi gởi tất cả các bạn, tôi hi vọng bạn sẽ vui sướng gặp lại Tuppence và Tommy lần nữa, tuy tuổi đă già, nhưng tâm hồn c̣n khát vọng khôn  nguôi!

 

 

 

 

 

 

SUNNY RIDGE

1.     D́ Ada

         

Ông và bà Beresford đang ngồi ở bàn ăn sáng. Họ là một đôi b́nh thường.  Trên khắp lănh thổ nước Anh hàng trăm đôi già như họ đang ăn sáng vào giờ phút đặc biệt đó. Đó cũng là một loại ngày b́nh thường nữa, loại ngày có được năm trong bảy ngày. Có vẻ như trời sẽ mưa nhưng không hoàn toàn chắc lắm.

Một dạo ông Beresford  có mái tóc màu đỏ. Vẫn c̣n dấu vết mái tóc đỏ, nhưng gần hết mái đầu đă có màu xám như có cát cái màu mà những người có mái tóc đỏ đến tuổi trung niên thường gặp phải. Bà Beresford một dạo có mái tóc màu đen, một mớ tóc dày xoăn đầy sức sống. Bây giờ màu đen được những vệt màu xám tô thêm và, một cách khá rơ là bừa băi. Ánh hưởng nó tạo ra khá bắt mắt. Bà Beresford một lần nghĩ đến chuyện nhuộm tóc, nhưng vào phút cuối bà quyết định những ǵ tự nhiên đă ban cho ḿnh th́ tốt hơn. Thay cho việc đó bà thử một loại son mới màu đậm để cho ḿnh tươi lên.

     Một đôi vợ chồng có tuổi đang cùng nhau ăn sáng. Một đôi vui vẻ, không có ǵ đáng chú ư về họ. Một kẻ đi qua sẽ nói thế. Một kẻ qua đường nếu c̣n trẻ y hay cô sẽ nói thêm” ồ vâng, khá vui, nhưng tẻ ngắt chết đi được, dĩ nhiên, như bao cặp vợ chồng già khác.”

      Tuy nhiên, ông và bà Beresford chưa đến giai đoạn của cuộc sống tự cho là ḿnh già. Và họ không có ư kiến họ và nhiều người khác v́ lí do ấy tự động phát biểu sống một ḿnh th́ tẻ ngắt đến chết đi được. Dí nhiên chỉ bởi những người trẻ thôi, nhưng rồi th́, họ sẽ dễ dăi nghĩ rằng, bọn trẻ không hiểu chi về cuộc sống cả. Những người bạn khốn khổ, chúng luôn luôn lo âu về những ḱ thi, đời sống t́nh dục, mua sắm một số quần áo đặc biệt, hay làm những kiểu tóc quái gở để khiến ḿnh được chú ư hơn. Từ quan điểm riêng của ḿnh vợ chồng Beresford chỉ vừa mới trải qua giai đoạn đẹp nhất của cuộc đời. Họ yêu bản thân họ và ngày lại ngày yêu nhau trong một kiểu cách trầm lắng mà thú vị.

        Tất nhiên, cũng có những giây phút; mọi người đều có những giây phút đó. Beresford mở một lá thư, liếc nh́n rồi đặt xuống bàn, thêm vào cái đống nhỏ bên tay trái. Anh nhặt là thư kế lên nhưng kềm chế không mở. Thay v́ vậy anh giữ nó trong bàn tay. Anh không nh́n lá thư, anh nh́n vào ḷ nướng bánh. Vợ anh quan sát anh vài phút trước khi mở miệng.

- Chuyện ǵ thế, Tommy?

- Chuyện ǵ à? Tommy mơ hồ nói. Chuyện ǵ à?       

- Đó là những ǵ em muốn nói.

       

         

- Không có chuyện ǵ quan trọng cả. Sẽ là chuyện ǵ chứ?

- Anh nghĩ đến chuyện ǵ đó. Tuppence nói giọng kết án.

- Anh không cho rằng ḿnh đang nghĩ chuyện ǵ đó.

-   Ô phải. Vậy có chuyện ǵ xảy ra?

-   Không, dĩ nhiên là không rồi. Chuyện ǵ xảy ra hả? Anh nói thêm, anh có ngân phiếu của thợ sửa ống nước thôi mà.

-   Ô, Tuppence reo lên với cái vẻ một người được khai sáng. Nhiều hơn em chờ đợi, em nghĩ thế.

-   Dĩ nhiên rồi, luôn luôn như vậy.

- Em không nghĩ tại sao chúng ḿnh không luyện tập như những thợ ống nước nhỉ. Nếu anh chỉ luyện tập như thợ sửa ống nước, có thể em là người phụ tá của thợ sửa ống nước và chúng ta ngày qua ngày kiếm được nhiều tiền.

-   Tầm nh́n của chúng ta quá ngắn không gặp những cơ hội này đâu.

-   Vừa mới rồi có phải anh đang nh́n ngân phiếu của thợ sửa ống nước không?

-   Ô không, đó chỉ là một Lời yêu cầu khẩn thiết.

-   Những thanh thiếu niên phạm tội - sự hợp nhất chủng tộc chăng?

-   Không. Chỉ là Viện chúng ta mở cho những người già.

-   Tốt, cái đó dù sao c̣n nhạy cảm hơn, nhưng em không hiểu tại sao anh phải có cái vẻ lo âu.

-   Anh không nghĩ thế.

-   Thế anh đang nghĩ về cái ǵ nào?

-   Anh cho là nó sắp sẵn trong trí anh.

-   Cái ǵ? Em biết cuối cùng anh sẽ nói mà.

- Thật sự không có ǵ quan trọng cả. Anh vừa nghĩ rằng có lẽ - đó là d́ Ada.

-   Em hiểu, Tuppence nói, hiểu ngay tức th́. Phải rồi, cô nói thêm, mềm mỏng, suy tuởng.

Mắt họ gặp nhau. Ở hầu hết mọi gia đ́nh trong thời đại này cái sự thật đáng tiếc, đó là vấn đề của cái có thể gọi là một “ d́ Ada.” Những cái tên khác nhau - d́ Amelia, d́ Susan, d́ Cathy, d́ Joan. Chúng khác nhau do những bà  ngoại, những cô em họ và thậm chí những bà d́. Nhưng chúng tồn tại và giới thiệu một vấn đề trong cuộc sống phải được giải quyết. Phải làm những cuộc xếp đặt. Những cơ sở công cọng thích hợp cho việc chăm sóc người già phải được xem xét kĩ và những câu hỏi đầy đủ hỏi về chúng. Những tiến cử được t́m từ các bác sĩ, từ các bạn bè có d́ Ada của họ người từng’ hoàn toàn hạnh phúc cho đến khi mất’ tại“Nhà Laurels, Bexhill” hay” Happy Meadow tại Scarborough.”

Ngày tháng dần trôi khi d́ Elizabeth, d́ Ada và ngày c̣n lại của họ sống hạnh phúc trong những ngôi nhà nơi họ đă ở nhiều năm trước, được những người giúp việc già  tận tuỵ chăm sóc nếu đôi khi có hơi chuyên chế một chút. Với sự sắp xếp cả hai phía đều hoàn toàn thoả măn. Có những người bà con nghèo không đếm hết, những cháu gái nghèo khổ, những cô em họ lớn tuổi không chồng, tất cả đều khao khát một mái nhà ấm áp với ba bữa ăn ngon một ngày và một pḥng ngủ đẹp. Lượng thực phẩm bổ sung cho mỗi người và tất cả đều tốt. Ngày nay, sự việc khác hẳn.

Những cuộc xếp đặt cho các d́ Ada ngày nay phải thích hợp, không chỉ đối với một quư bà có tuổi, do bởi bệnh viêm khớp hay những khó khăn bởi bịnh thấp khớp, chắc chắn phải rơi xuống cầu thang nếu bà ta bị bỏ lại một ḿnh trong nhà, hoặc là chịu đựng những đau đớn v́ chứng viêm phế quản, hoặc căi nhau với láng giềng hay lăng mạ những người buôn bán.

Bất hạnh thay, d́ Ada c̣n phiền phức hơn cả mức độ đối nghịch của tận cùng tuổi tác. Trẻ con có thể được phân phối vào những nhà nhận nuôi trẻ, áp đặt cho những người bà con, hay gởi tới những trường thích hợp nơi chúng ở lại vào những ngày nghỉ, hoặc có thể xếp đặt dạo chơi bằng ngựa ponny hay cắm trại, xét toàn thể trẻ con rất ít chống đối những xếp đặt dành cho chúng. C̣n những d́ Ada th́ rất khác. D́ Ada của Tuppence Beresford - bà cố d́ Primrose - là một kẻ gây phiền đáng kể. Không có ǵ thoả măn bà ta được. Vừa mới bước vào một tổ chức công cọng được bảo đảm dành cho một căn nhà tốt và tất cả tiện nghi cho những quư bà có tuổi sau khi viết vài lá thư hết ḷng khen ngợi cháu gái bà đang tán dương cơ sở này, tin kế tiếp cho biết bà đă giận dữ đi ra mà không ai chú ư cả.

-   Không thể được. Ta không thể ở lại đó một phút nào nữa!

Trong khoảng thời gian một năm d́ Primrose đă liên tục vào và ra chừng mười một tổ chức công cọng, cuối cùng viết thư nói rằng bây giờ d́ đă gặp một chàng trai  trẻ quyến rũ, ‘ thật sự là một gă trai tận tuỵ. Hắn mất mẹ từ thời trẻ và anh ta cực ḱ cần sự chăm sóc. D́ đă thuê một căn hộ và anh ta sẽ đến ở với d́. Sự sắp xếp này hoàn toàn thích hợp với hai chúng tôi. Chúng tôi cuốn hút nhau tự nhiên. Cháu không cần phải lo lắng nhiều nữa, Pruden quư mến. Tương lai của d́ được ổn định. Ngày mai d́ sẽ đến gặp luật sư v́ d́ cần thiết phải làm một số điều khoản cho Mêrvyn nếu d́ chết trước anh ta mà, tất nhiên rồi, quá tŕnh diễn biến của những biến cố tự nhiên thôi, mặc dù vào giờ phút này d́ bảo đảm với con d́ đang độ sung sức.’

Tuppence đă vội đi về hướng Nam( tai nạn xảy ra tại Aberdeen). Nhưng khi tai nạn xảy ra, đầu tiên cảnh sát đă đến đó và đem đi anh chàng Mervyn quyến rũ, v́ anh ta là người mà họ đă t́m kiếm một thời gian, bị buộc tội kiếm tiền bằng cách lừa đảo. D́ Primrose vô cùng tức giận, và đă gọi đó là sự ngược đăi -  nhưng sau khi lo đối phó với những thủ tục tố tụng của toà án - ( nơi hai mươi lăm vụ khác được lưu tâm đến) đă buộc ḷng thay đổi những quan niệm của bà về người được bảo trợ.

-   Tôi nghĩ  tôi phải đi thăm d́ Ada, Tuppence. Đă một thời gian trôi qua rồi.

-   Em cũng nghĩ thế. Tuppence đáp không chút t́nh cảm. Bao lâu rồi nhỉ?

-   C̣n hơn thế nữa. Em nghĩ phải trên một năm.

 

 

-   Vâng, thời gian đi nhanh quá, phải không nào? Tôi không thể tin nó lâu như vậy. Tôi tin em có lí, Tuppence. Anh nhẩm tính. Đó là cách khủng khiếp nhất để người ta quên lăng, phải vậy không? Thật sự anh cảm thấy rất tệ về điều đó.

-   Em không nghĩ anh cần phải ân hận, sau rốt, ḿnh đă gởi cho d́ các đồ đạc và chúng ta có viết thư cho d́.

-   Vâng, anh hiểu. Em là người cực ḱ hoàn hảo về các loại việc ấy, Tuppence. Nhưng cũng thế thôi, người ta đọc những chuyện mà đôi khi chúng rất lộn xộn.

-   Anh đang nghĩ đến cuốn sách đáng sợ chúng ta lấy từ thư viện chứ ǵ, và thật khủng khiếp làm sao cho những người già khốn khổ. Họ chịu đựng biết bao.

-   Anh cho rằng đó là sự thật - lấy từ cuộc sống.

-   Vâng, chắc phải có những nơi như vậy. Có những người bất hạnh kinh khủng, người ta không thể tránh được sự bất hạnh. Nhưmg họ phải làm cái ǵ khác chứ, Tommy?

-   Người ta có thể làm cái ǵ khác ngoài sự cẩn trọng. Em rất cẩn trọng những ǵ em chọn lựa, hiểu biết mọi điều về nó và bảo đảm bà kiếm được một bác sĩ giỏi chăm sóc bà.

-   Không ai có thể tốt hơn Dr. Murray, anh phải chấp nhận điều đó.

-   Phải, Tommy đáp, cái nh́n mệt mỏi toát ra từ khuôn mặt anh. Murray là một người số một. Kiên nhẫn, dễ thương. Nếu có chuyện ǵ đó sai lầm ông sẽ cho chúng ta biết.

-   Thế em không nghĩ anh cần phải lo âu về chuyện ấy. Bây giờ d́ bao nhiêu tuổi rồi nhỉ?

-   Tám mươi hai. Không - không. Anh nghĩ là tám mươi ba, anh thêm vào. Thật khá xấu xa khi em sống lâu hơn mọi người.

-   Đó chỉ là những ǵ anh cảm thấy thôi. Người ta không cảm thấy thế đâu.

-   Em không thể nói thật được.

-   C̣n d́ Ada của anh th́ không. Anh không nhớ sự đắc ư của bà khi bà nói với chúng ta con số những người bạn già mà bà sống lâu hơn họ? Bà nói để kết thúc như sau: “ về phần Amy Morgan, tôi nghe mụ ta không sống lâu hơn sáu

tháng nữa. Bà ấy luôn thường nói tôi quá mong manh và bây giờ thực tế đă bảo đảm tôi sống lâu hơn mụ. C̣n sống lâu hơn bà ta khá nhiều năm nữa.” Chiến thắng, đó là những ǵ bà d́ ấy ḱ vọng.

-   Có chi quan trọng đâu. Tommy nói.

-   Em biết, em biết. Không có chi quan trọng anh cảm thấy đó là bổn phận của ḿnh và anh bắt đầu ra di.

-   Em không cho là tôi có lí à?

-   Bất hạnh thay, Tuppence đáp, em nghĩ anh có lí. Và em cũng đi nữa. Cô nói thêm, với một ghi chú nhẹ nhàng tính dũng cảm trong giọng nói của ḿnh.

-  Không, Tommy phản đối, tại sao em phải đi? Bà ấy không phải là d́ em. Không, anh đi một ḿnh thôi.

-   Không ǵ hết. Tôi cũng thích chịu đựng. Chúng ta cùng chịu đựng. Anh không thích điều đó em không thích thú ǵ và em không nghĩ một phút nào bà Ada sẽ lấy làm thú vị về chuyện này. Nhưng em hiểu rơ đây là một việc phải làm cho xong.

-   Không, tôi không muốn em đi. Sau hết, lần cuối cùng, hăy nhớ lại bà ấy đă thô lỗ đáng sợ đối với em như thế nào?

-   Em không quan tâm. Có lẽ đó chỉ là chút viếng thăm mà bà già khốn khổ đó thích thú. Đối với d́, em không cần miễn cưỡng, không một phút nào cả.

-   Em luôn luôn tốt với d́, cho dù em không thích d́ lắm.

-   Không ai có thể yêu được d́ Ada. Nếu anh hỏi em em cũng không nghĩ bất cứ ai lại từng đă yêu d́.

-   Người ta không thể tránh được cảm tưởng hối tiếc khi người ta già.

-   Em có thể, Tuppence đáp. Em không có được một tính chất tốt như anh.

-   Là một phụ nữ em cũng khá tàn nhẫn. Tommy nói.

-   Em cho là điều ấy có lẽ thôi. Sau rốt, phụ nữ không có đủ thời gian cho bất cứ cái ǵ nhưng lại thực tế trên tất cả mọi chuyện. Em muốn nói đối với những người tốt, em rất buồn cho họ nếu họ ǵa đi hay ốm đau. Nhưng nếu họ không phải là những người tốt, th́ lại khác, điều này anh phải chấp nhận chứ. Nếu anh cực ḱ khó chịu khi anh hai mươi và cũng khó chịu khi anh bốn mươi và càng khó chịu hơn khi anh sáu mươi tuổi, vào tuổi tám mươi anh hoàn toàn là một con quỷ - thật vậy đó, em không  hiểu tại sao người ta phải đặc biệt buồn cho con người, chỉ bởi v́ người ta già đi. Bản thân anh thật ra không thay đổi. Em biết một số người tuyệt đối thân thiết họ đă bảy mươi và tám mươi tuổi. Bà già Beauchamp, Mary Carr và bà ngoại của người bán bánh ḿ, bà già Poplett, thường vào chùi dọn cho chúng ta. Tất cả đều dễ thương dịu dàng và em làm bất cứ cái ǵ có thể làm cho họ.

-   Ôn rồi, được rồi. Tommy nói, thực tế lắm. Nhưng nếu em thật sự muốn cao thượng và đi với tôi -  

-   Em muốn đi với anh, Tuppence nói. Sau rốt, em lấy anh có ra sao cũng mặc và d́ Ada quyết định đó là điều xấu. Vậy em sẽ đi với anh tay trong tay. Chúng ta sẽ mang cho bà một bó hoa và một hộp sô cô la với nhân mềm và có lẽ một hai tờ tạp chí nữa. Anh có thể viết thư cho cô Chưa biết tên rồi chúng ḿnh sẽ đến.

-   Một ngày tuần tới? Anh có thể thu xếp ngày thứ ba. Nếu ngày ấy ổn cho em.

-   Thứ ba, c̣n tên của người đàn bà đó? Em không thể nhớ được -  là y tá trưởng hay giám thị hay bà là bất cứ ai. Bắt đầu với chữ P.

-   Cô Packard.

-   Được rồi.

-    Có lẽ lần này khác. Tommy nói.

-   Khác à? Khác trong một ư nghĩa  nào?

-    Anh không biết. Một  cái ǵ đáng chú ư có thể xảy ra.

-   Trên đường đến đó có thể chúng ta gặp một tai nạn xe lửa. Tuppence nói, rạng rỡ hẳn lên một chút.

-   Làm sao mà em lại muốn có mặt trong một tai nạn xe lửa?

-   Em không thật sự muốn, tất nhiên rồi. Đó chỉ là một -  

-   Chỉ là ǵ chứ?

-   Sẽ là một cuộc phiêu lưu, phải không? Có lẽ chúng ta có thể bảo vệ nhân mạng hay làm cái ǵ đó hữu ích. Hữu ích và kích thích cùng một lúc.

-   Thật là một hi vọng hay ho! Beresford thốt lên.

-   Em hiểu, Tuppence đồng ư. Đó chỉ là loại ư tưởng đôi khi chợt đến.

v    .

 

 

 

 

 

 

 


 

 

2. CÓ PHẢI ĐÓ LÀ ĐỨA TRẺ TỘI NGHIỆP CỦA CÔ  KHÔNG?

 

Cái tên Sunny Ridge đă đến như thế nào thật khó mà giải thích. Không có chi nổi bật về  giải đất hẹp này cả. Mặt đất th́ bằng phẳng, nổi tiếng thích hợp cho những cư dân lớn tuổi. Nơi đó là một khu vườn rộng mênh mông, dù không có chi nổi bật. Đó là một toà nhà lớn cân đối thời Victorian được bảo quản giữ ǵn tốt. Có một số cây xanh đầy bóng mát dễ chịu, một dạng cây leo xứ Virginia ḅ dọc bên toà nhà, hai con khỉ h́nh rối tạo cho khung cảnh vẻ lạ  mắt. Nhiều ghế băng đặt ở những nơi thuận tiện để sưới nắng, cũng có một hai ghế ngồi trong vườn với một hàng hiên râm mát để những bà già có thể ngồi tránh ngọn gió hướng đông.

Tommy bấm chuông cửa trước rồi anh và Tuppence được một phụ nữ c̣n trẻ mặc chiếc áo choàng bằng nylon trông khá căng thẳng đón vào. Cô ta dẫn họ vào pḥng khách nhỏ nói giọng gần đứt hơi, “ tôi sẽ gọi cô Packard. Cô ấy đang đợi ông bà và một lát nữa cô xuống. Có đợi một chút ông bà không phiền chứ, chỉ tại bà Carraway. Bà ấy ở đó và lại nuốt cái đê, ông bà hiểu chứ.”

- Làm sao mà bà ấy lại làm một chuyện như thế được? Tuppence hỏi, kinh ngạc.

- V́ niềm vui, người quản gia giải thích ngắn gọn. Luôn luôn làm thế.

Cô ta đi ra c̣n Tuppence ngồi xuống nói giọng trầm tư, ‘ em không nghĩ ḿnh lại thích nuốt một cái đê. Khi xuống cổ nó sẽ tràn đầy những bong bóng khủng khiếp. Anh có nghĩ vậy không?’

Tuy nhiên họ không phải đợi lâu, trước khi cánh cửa lớn mở ra và cô Packard bước vào, xin lỗi họ. Cô là một phụ nữ to béo, tóc hung hung đỏ hơi vàng chừng năm mươi tuổi với cái vẻ trầm tĩnh có năng lực mà Tommy luôn luôn thích.

-   Tôi rất tiếc đă để ông bà chờ, ông Beresford, cô nói. Bà có khoẻ không, bà Beresford, tôi rất vui bà lại đến.

-   Tôi nghe nói ai đó nuốt một cái ǵ đó, Tommy đáp.

-   Ô, Marlene nói với ông chứ ǵ? Vâng, đó là bà Carraway. Bà ấy luôn nuốt đồ vật. Rất khó khăn, bởi v́ không phải lúc nào người ta cũng trông chừng họ được. Dĩ nhiên người ta biết trẻ con cũng làm thế, nhưng đối với một bà già th́ thật là khôi hài khi coi đó là một sở thích, phải không? Tuổi già thống ngự bà ấy, ông biết không. Mỗi năm bà ấy càng tệ. H́nh như không có chi làm hại bà ấy được, việc nuốt đồ vật là việc vui nhất.

-   Có lẽ cha bà ấy là một người nuốt gươm à. Tuppence phỏng đoán.

-   Bà Beresford, ấy là một ư kiến rất thú vị. Có lẽ điều đó giải thích mọi việc. Cô ta nói tiếp, tôi sẽ bảo cô Fanshave là ông đến, ông Beresford. Tôi không biết bà ấy có thật hiểu không. Ông biết đấy, bà ấy luôn không để ư.

-   Dạo sau này d́ ấy thế nào?

-   Bây giờ th́ bà ấy đang nhanh chóng yếu đi. Tôi e là, cô Packard vẫn giọng dễ chịu. Người ta thật ra không biết bà ấy hiểu được bao nhiêu và không hiểu được bao nhiêu. Tôi đă bảo bà ấy tối qua và bà ấy nói chắc là tôi nhầm bởi v́ đang học ḱ. Dường như bà ấy nghĩ ông vẫn c̣n đi học. Những sinh linh già khốn khổ, đôi khi họ lẫn lộn mọi việc, đặc biệt ở ngoài giờ. Tuy nhiên, sáng ni khi tôi nhắc bà về chuyến viếng thăm của ông, bà chỉ nói hoàn toàn không thể được bởi v́ ông đă chết. Ô. Cô Packard vui vẻ nói tiếp, tôi mong bà sẽ nhận ra ông khi bà thấy ông.

-   Sức khỏe của bà ấy thế nào? Như mọi khi chứ?

-   Có lẽ cũng hi vọng thế. Thành thật mà nói, tôi không nghĩ bà ấy sẽ ở với chúng tôi bao lâu nữa. Trong một chừng mức nào đó bà ấy không đau đớn lắm nhưng t́nh trạng trái tim bà không tốt hơn mấy cả. Thật ra, nó c̣n xấu hơn. V́ vậy tôi nghĩ tôi muốn ông biết đă thế th́ thà chuẩn bị trước c̣n hơn, để cho nếu bà ấy có th́nh ĺnh ra đi cũng không phải gây sốc cho ông.

-   Tôi mang cho d́ ấy ít hoa. Tuppence nói.

-   Và một hộp sô cô la, Tommy tiếp lời.

-   Tôi bảo đảm là ông bà tử tế lắm mà. Bà ấy sẽ vui lắm đấy. Ông vui ḷng lên bây giờ chứ?

Tommy và Tuppence đứng dậy theo cô Packard rời khỏi pḥng. Cô dẫn họ lên cầu thang rộng. Khi đi ngang một trong những căn pḥng trong hành lang trên lầu, th́nh ĺnh cửa mở và một phụ nữ nhỏ bé cao chừng 1m50 rảo bước ra ngoài, gọi lớn giọng the thé, “ Tôi muốn coca của tôi. Tôi muốn coca của tôi. Vú Jane đâu rồi? Tôi muốn coca của tôi. ”

Một người đàn bà trong bộ đồng phục y tá từ pḥng bên cạnh đi nhanh tới trước nói, “ đây, đây, được rồi. Me sẽ có coca của me. Me đợi hai mươi phút nữa nhé.”

-   Không, tôi không đợi được, vú. Đó không phải là sự  thật. Tôi chưa uống coca. Tôi khát.

-   Nếu me thích me sẽ có một tách nữa.

-   Tôi chưa  có tách nào làm sao tôi có thêm tách khác chứ.

Họ bước đi và cô Packard, sau một cái vỗ nhẹ lên cánh cửa cuối hành lang, mở cửa ra và họ bước vào.

-   Cô đây rồi, cô Fanshawe, cô nói nhanh. Có cháu trai đến thăm cô đây. Dễ thương chưa nào?

Trong một chiếc giường gần cửa sổ một bà già ngồi dậy thật lẹ làng trên đống gối cao. Bà ta có mái tóc màu xám sắt, một khuôn mặt gầy nhăn nheo với một chiếc mũi lớn, sóng mũi cao và một vẻ phản đối thường lệ. Tommy bước tới gần.

-   Xin chào, d́ Ada. D́ mạnh giỏi chứ?

D́ Ada không chú ư tới anh, mà giận giữ nói với cô Packard.

-   Tôi không hiểu cô muốn ǵ bằng cách dẫn người quư tộc kia vào pḥng ngủ một quư bà, bà nói. Sẽ không phải là tư tưởng đúng trong suốt thời son trẻ của tôi! Bảo tôi thật sự hắn là cháu trai của tôi! Anh ta là ai? Một thợ sửa ống nước hay thợ điện?

-   Nào, nào, thế là không dễ thương chút nào cả, cô Packard nói dịu dàng.

-   Con là cháu d́ đây, Thomas Beresford. Tommy đưa hộp sô cô la ra trước. Con mua cho d́ một hộp sô cô la đây nè.

-   Anh không cần thuyết phục ta. Ta biết loại người như anh mà. Anh sẽ nói cái ǵ đó. C̣n bà này là ai? Bà chiếu tướng Tuppence với vẻ nhờm tởm.

-   Cháu là Prudence, cháu gái của d́. Prudence. Bà Beresford đáp.

-   Thật là một cái tên ḱ cục. Nghe như tên của một con hầu chuyên phục vụ ở pḥng khách. Ông chú Mathew có một đầy tớ chuyên phục vụ pḥng khách tên Comfort và một hầu gái tên Rejoice - the - Lord. Methodist là tên cô. Nhưng ngay sau đó bà d́ Fanny chấm dứt cái tṛ đó. Bảo cô ta sẽ được gọi là Rebecca miễn là cô ở trong Nhà của bà.

-   Cháu mua cho d́ ít bông hồng. Tuppence nói.

-   Tôi không cần bông hồng trong pḥng một người bịnh. Dậy lên tất cả mùi oxyen.

-   Tôi  sẽ đặt nó trong một cái lọ hoa cho me. Cô Packard nói.

-   Cô đừng làm chi hết. Cô phải biết lúc này tôi hiểu ḿnh muốn ǵ chứ.

-   H́nh như t́nh trạng sức khoẻ d́ tốt, d́ Ada à. Có cơ may điều chỉnh được đó, cháu dám nói thế. Beresford nói.

-   Có thể anh đánh giá đúng. Anh muốn ǵ bằng cách xưng là cháu trai của tôi? Anh nói tên anh là ǵ kia? Thomas hả?

-   Dạ. Thomas hay Tommy.

-   Chưa bao giờ nghe tên anh cả. Ta chỉ có một cháu trai hắn tên là William. Bị giết trong chiến tranh vừa qua. Việc ấy cũng tốt. Nếu c̣n sống hắn c̣n tệ hơn. Ta mệt. D́ Ada nói rồi tựa lưng vào gối và quay về phía cô Packard.’ ‘Đem họ đi. Lẽ ra cô không nên để người lạ vào pḥng tôi.

-   Tôi nghĩ một cuộc viếng thăm ngắn ngủi dễ thương có thể làm me vui lên. Cô Packard thản nhiên.

D́ Ada buông một tiếng cười khẩy thô tục.

-   Đươc rồi, Tuppence vui vẻ nói. Tụi cháu sẽ đi. Cháu để bông hồng lại. Có thể d́ sẽ thay đổi ư kiến về chúng. Đi nào, Tommy. Cô quay về hướng cánh cửa.

-   Tạm biệt, d́ Ada. Cháu rất tiếc d́ không nhận ra cháu.

D́ Ada im lặng cho đến khi Tuppence đi khuất ngoài cánh cửa với cô Packard và Tommy theo sau cô.

-   Trở lại, cháu. D́ Ada cao giọng. D́ hoàn toàn biết cháu. Cháu là Thomas. Cháu thường có mái tóc đỏ. Màu cà rốt, đó là màu tóc cháu. Trở lại, d́ sẽ nói chuyện với cháu. D́ không cần con đàn bà đó. Không tốt việc nó giả vờ là vợ cháu, d́ hiểu rơ mà. Đừng mang loại dàn bà đó đến đây. Hăy đến ngồi xuống trong cái ghế này và kể cho d́ nghe về mẹ cháu. Cô đi đi, d́ Ada thêm vào như kiểu tái bút, vẫy tay về phía Tuppence đang lưỡng lự nơi ngưỡng cửa.

Tuppence rút lui ngay lập tức.

-   Hôm nay bà ấy toàn nổi cơn bực tức, cô Packard điềm tĩnh nói khi họ đi xuống lầu.’ Đôi khi, cô biết không, bà ấy cũng có thể thật sự vui vẻ . Cô khó mà tin được lắm.

Tommy ngồi xuống một cái ghế được chỉ cho ḿnh bên cạnh d́ Ada và đưa ư kiến nhẹ nhàng rằng ḿnh không thể kể nhiều về mẹ v́ bây giờ bà đă chết gần bốn mươi năm rồi. D́ Ada thản nhiên trước lời phát biểu này.

-   Hăy tưởng tượng đi, bà nói, có phải đă lâu như thế không? Ư, thời gian đi nhanh quá. Bà nh́n anh săm soi từ trên xuống. Tại sao cháu chưa lấy vợ? Kiếm một người đàn bà dễ thương có năng lực để săn sóc cháu. Cháu đang ǵ đi, cháu biết mà. Cháu đang đi lại với tất cả bọn đàn bà dễ dăi đem chúng đến nhà ai rồi tṛ chuyện giống như chúng là vợ cháu.

-   Cháu có thể hiểu rằng, lần tới đến thăm d́ tốt hơn hết cháu bảo Tuppence mang theo những bức thư ngắn hồi đám cưới cô ấy.

-   Biến cô ta thành một người đàn bà chân thật ư?

-   Chúng cháu cưới nhau trên ba mươi năm rồi. Chúng cháu có một trai và một  gái, cả hai đều có vợ có chồng hết rồi.

-   Cái phiền là, d́ Ada khéo léo thay đổi đề tài, không ai kể cho ta bất cứ chuyện ǵ. Nếu anh chu cấp tiền bạc cho ta cho đến ngày -   

Tommy không căi lại. Có một lần Tuppence đă dành cho anh một phán quyết quan trọng của toà án.’ Nếu bất cứ kẻ nào trên sáu mươi lăm tuổi có lỗi với anh, đừng bao giờ căi lại. Đừng bao giờ nói ḿnh có lí. Xin lỗi ngay lập tức và nhận tất cả lỗi về ḿnh và bảo đó là lỗi của tôi tôi không bao giờ tái phạm nữa.’

Giờ phút này việc đó xảy đến với Tommy với một quyền lực chắc chắn thuộc lănh vực có dính líu đến d́ Ada, mà thật ra th́ luôn như thế.

-   Cháu rất tiếc, d́ Ada, anh nói. Cháu sợ là, người ta có khuynh hướng quên lăng khi thời gian trôi qua. Không phải ai cũng có một kí ức tuyệt vời về quá khứ. Anh tiếp tục nói không đỏ mặt.

D́ Ada cười tự măn. Không c̣n từ nào khác cho việc này sao. Cháu có cái ǵ khác cơ. Ta tiếc ta tiếp cháu khá thô lỗ, nhưng ta không lo chuyện bị áp đặt. Cháu không bao giờ hiểu rơ nơi này. Họ cho bất cứ ai vào thăm cháu. Bất ḱ lúc nào. Nếu ta nhận tiếp mọi người v́ những ǵ họ nói họ là, có thể họ sẽ có ư định cướp và giết ta trong giường.

-   Ồ, cháu không nghĩ điều đó có thể xảy ra.

-   Cháu không bao giờ biết cả, d́ Ada đáp. Những chuyện cháu đọc trong các báo. Và những chuyện người ta đến kể với cháu. D́ cũng không tin mọi việc d́ được nghe kể. Nhưng d́ giữ kín sự cảnh giác cao độ. Cháu có tin không, ngày nọ họ mang tới một người đàn ông xa lạ

       -  trước đây chưa bao giờ gặp ông ta. Gọi ông ta là Dr. William. Bảo ta Dr. Murray đi nghỉ hè xa và ông này là người cọng sự mới của ông ấy. Bạn cộng sự mới! Làm sao ta biết hắn là bạn cộng sự mới của ông ấy? Hắn chỉ nói hắn là thế, và chỉ có vậy.

-   Có phải ông ta là người cộng sự mới không?

-   Thật ra là thế. D́ Ada đáp, hơi phiền ḷng v́ bị đánh lạc hướng, thật sự ông ta là người cọng sự. Nhưng không ai có thể biết chắc được. Ông ta đó, lái xe hơi lên về, mang theo loại hộp màu đen, mà những bác sĩ thường mang theo để đo huyết áp - nếu không có ǵ khác. Nó giống như cái hộp ma thuật mà người ta thường nói đến nhiều. Nó là của ai, Joanna Southcott ấy?

-   Không, cháu nghĩ chuyện này hơi khác. Một dạng lời tiên tri.

-   Ta hiểu. Quan điểm của d́ là bất cứ ai đều có thể vào một chỗ như thế này và xưng ông ta là một bác sĩ, ngay lập tức tất cả bọn y tá sẽ cười khúc khích tự măn //và nói vâng, thưa bác sĩ, dĩ nhiên rồi, thưa Bác sĩ, và hầu như đứng nghiêm để chú ư, những đứa con gái điên! Và nếu như bịnh nhân thề tôi không hề biết người đàn ông đó, họ chỉ nói rằng bà ta quên lăng và quên mọi người. Ta không bao giờ quên một khuôn mặt nào hết. D́ Ada quả quyết. Ta chưa bao giờ quên. D́ Caroline của cháu thế nào rồi? Trong một thời gian d́ không nghe tin tức của cô. Con đă từng gặp d́ ấy rồi phải không?

    Tommy nói, gần như xin lỗi, rằng d́ Caroline đă chết mười lăm năm rồi. D́ Ada nhận sự cáo chung này không chút buồn rầu. Sau rốt d́ Caroline không phải là em ruột của bà mà chỉ là em họ.

-   Mọi người dường như đang hấp hối, bà nói, với vẻ thích thú nào đó. Không có nghị lực. Đó là vấn đề của họ. Tim yếu, nghẽn động mạch vành, viêm phế quản măn tính, viêm khớp - tất cả các chứng c̣n lại. Tất cả bọn họ đều là những giống người yếu đuối. V́ thế các bác sĩ đem lại cuộc sống cho họ. Cho họ những hộp và hộp, những chai và chai thuốc. Những viên thuốc màu vàng, màu tím, màu xanh, thậm chí cả những viên màu đen, tôi cũng không ngạc nhiên. U! Họ thường dùng mật đường và lưu huỳnh trong thời bà ngoại tôi. Tôi cá là nó cũng tốt như bất cứ thứ ǵ khác. Giữa sự chọn lựa mật đường và lưu huỳnh để uống hay để trở nên khoẻ mạnh, lần nào bạn cũng chọn sự khoẻ mạnh. Bà gật đầu thỏa măn.‘ không thể tin mấy ông bác sĩ được, phải không nào? Không ngay cả khi đó là một vấn đề mang tính chuyên nghiệp - một số là mốt thời thượng - người ta kể lại với tôi hiện có nhiều chuyện đầu độc đang tiến hành ở đây. Kiếm tim để mổ, người ta nói với tôi thế. Tôi không nghĩ đó là sự thật. Cô Packard không phải là hạng người bênh vực cho chuyện ấy.

     Cô Packard xuống lầu, chỉ một pḥng khởi đầu tiền sảnh, nhẹ nhàng xin lỗi.

 

 

-   Tôi rất tiếc về chuyện này, bà Beresford, nhưng tôi mong bà hiểu với người già là thế nào. Họ cưu mang những tưởng tượng, sự thù ghét rồi khăng khăng bám lấy.

Hẳn rất khó khăn khi điều khiển một chỗ như thế này.

-   Thật ra không khó lắm, tôi cảm thấy thích  thú việc ḿnh làm và tôi cũng yêu tất cả bọn họ. Cô biết đấy, người ta đâm ra yêu những người mà người ta phải chăm sóc. Tôi muốn nói, họ có những thói quen và những sự hiếu động của riêng họ, nhưng quản lí họ hoàn toàn dễ thôi, nếu cô biết cách.

Tuppence nghĩ cô Packard chính là một trong những người hiểu biết cách làm thế nào.

-   Thật ra họ giống trẻ con. Cô Packard cười dễ dăi. Chỉ trẻ con mới vượt quá lô gic đôi khi làm cho sự việc trở nên khó khăn đối với chúng. Nhưng những bà già này đều phi lô gic cả, bằng những ǵ cô nói với họ họ cần được bảo đảm những ǵ họ muốn tin. Sau đó, họ khá hạnh phúc. Nơi đây tôi có một nhóm bạn rất dễ thương. Những người kiên nhẫn, tánh t́nh hoà nhă, không thông minh lắm bởi v́ nếu cô có những người thông minh chắc chắn họ rất nóng nảy. Vâng, cô Dônvan, cái ǵ thế?

Cô quay lại một phụ nữ trẻ với chiếc gọng kính đang chạy xuống thang lầu.

-   Lại bà Lockett nữa. Cô Packard. Bà ấy bảo bà ấy đang hấp hối và cần gọi bác sĩ ngay.

-   Lần này th́ bà ấy hấp hối v́ cái ǵ? Cô Packard nói không chút xúc động.

-   Bà ấy nói có nấm trong món ninh ngày hôm qua và chắc chắn phải có nấm mốc trong đó v́ thế bà ấy bị nhiễm độc.

-   Đó là một chuyện mới. Tốt hơn tôi nên lên lầu gặp bà ấy. Rất tiếc phải rời bà, bà Beresford. Bà hăy t́m nhật báo và tạp chí trong pḥng kia mà đọc nhé.

-   Tôi hoàn toàn ổn thôi. Tuppence đáp.

Cô đi vào căn pḥng được chỉ cho ḿnh. Đó là một căn pḥng vui mắt nh́n ra vườn hoa, với những cửa sổ Pháp mở. Pḥng có ghế bành, trên bàn có b́nh hoa. Một bức tường có những kệ sách gồm có sách phiêu lưu và tiểu thuyết hiện đại, cũng là những ǵ có thể coi như vật được ưa thích của tuổi già mà nhiều người cùng nằm viện có thể vui mừng khi gặp lại lần nữa. Có tạp chí trên một cái bàn.

Vào lúc đó chỉ có một người trong pḥng. Một bà già với mái tóc trắng chải ngược về phía sau đang ngồi trong một ghế tựa, và đang nh́n vào li sữa trong tay. Bà ta có một khuôn mặt trắng trẻo xinh đẹp, mỉm cười ngó Tuppence vẻ thân thiện.

-   Xin chào, bà ta nói. Cô đến để ở đây hay cô đang viếng thăm?

-   Tôi đang viếng thăm. Tuppence đáp. Tôi có một bà d́ ở đây. Bây giờ chồng tôi đang ngồi với bà. Tôi nghĩ có lẽ hai người đă có ngay những đ̣i hỏi quá sức chịu đựng.

-   Cô nói rất sâu sắc. Bà ta nhấp một ngụm sữa với vẻ thích thú. Tôi tự hỏi -  không tôi nghĩ chuyện đó sẽ ổn thôi. Cô muốn uống chút ǵ không? Trà hay cà phê? Tôi rung chuông nhé. Ơ đây họ ép buộc lắm.

-   Không cám ơn. Tuppence lắc đầu. Thôi ạ.

-   Hay có lẽ một li sữa vậy. Hôm nay không có thuốc độc.

-   Không, không. Sữa cũng thế. Chúng tôi sẽ không dừng đây lâu lắm đâu.

-   Nếu cô hoàn toàn tin chắc -  nhưng có chi phiền phức đâu, cô biết mà. Không ai nghĩ có bất cứ chuyện ǵ phiền phức ở đây cả. Trừ phi cô đ̣i hỏi cái ǵ đó không thể thực hiện được.

-   Tôi lại dám nói bà d́ mà chúng tôi đang thăm lại đ̣i hỏi những điều không thể thực hiện được. Bà ấy là cô Fanshawe. Cô nói thêm.

-   Ô, cô Fanshawe ấy à. Bà già đáp. Ô vâng.

Một cái ǵ đó dường như đang kềm chế bà ta lại nhưng Tuppence vẫn vui vẻ nói.

-   Đúng ra tôi nên tưởng tượng d́ ấy là một người khá thô bạo chứ. D́ ấy luôn như vậy mà.

-   Phải thật ra th́ có thế thật. Tôi quen với việc có một bà d́, bà ấy giống hệt như thế, đặc biệt khi bà ấy già. Nhưng tất cả bọn tôi đều yêu mến d́ Ada. Cô ấy có thể rất, rất vui nếu cô ấy muốn. Về mọi người ấy mà, cô biết đấy.

-   Vâng, tôi dám nói d́ ấy có thể thế lắm, Tuppence đáp. Cô suy nghĩ một hai phút, khảo sát d́ Ada dưới ánh sáng mới mẻ này.

-   Rất chua, bà già nói. Tên tôi là Lancaster, nhân tiện nói luôn, bà Lancaster.

- Tên tôi là Beresford.

-   Tôi e là, đôi khi người ta cũng cần thưởng thức cái thú có một chút nham hiểm. Những mô tả của bà ta về một số ngừơi khách đến đây, và những điều bà ta nói về họ. Tất nhiên cô biết đấy, người ta không được làm thế., để t́m niềm vui nhưng họ vấn cứ làm.

-   Bà sống ở đây bao lâu rồi?

-   Khá lâu. Để tôi xem nào, bảy năm -  tám năm. Phải, phải, chắc là hơn tám năm rồi. Bà ta thở dài. Người ta mất liên lạc với mọi chuyện. Và người khác cũng thế. Bất cứ bà con nào tôi c̣n lại đều ở ngoại quốc.

-   Điều đó chắc khá buồn.

-   Không, thật sự th́ không. Tôi không lưu tâm đến họ lắm. Thật sự, tôi thậm chí cũng không hiểu họ rơ. Tôi có một chứng bịnh tệ hại - một căn bịnh cực ḱ tệ hại - và tôi cô đơn trong thế giới này, v́ thế họ nghĩ sống tại một nơi như thế này sẽ tốt hơn cho tôi. Tôi nghĩ ḿnh rất may mắn đă đến đây. Họ quá tử tế và sâu sắc. Và những khu vườn th́ tuyệt đẹp. Tự tôi cũng hiểu rằng ḿnh không nên sống một ḿnh v́ đôi khi tôi làm mọi việc rối tung lên, cô biết không. Rất lộn xộn. Bà ta vỗ vào trán. Tôi rối trí ở đây. Tôi lẫn lộn những thứ. Tôi không luôn luôn nhớ chính xác những ǵ đă xảy ra.

-   Tôi rất buồn, Tuppence nói. Tôi tưởng người ta luôn luôn phải có một cái ǵ đó, phải không?

-   Một số chứng bịnh gây đau đớn vô cùng. Ơ đây chúng tôi có hai người phụ nữ khốn khổ đang sống với chứng viêm khớp trầm trọng. Họ đau đớn kinh khủng. V́ thế tôi nghĩ không có chi quan trọng nếu người ta có một chút lẫn lộn về

những ǵ xảy ra và ở đâu, và họ là ai, và tất cả nếu không có chi khác. Dù sao đi nữa nó cũng không phải là nỗi đau đớn tự nhiên.

-   Không, tôi nghĩ bà hoàn toàn có lí.

Cánh cửa mở ra một cô gái mặc áo choàng trắng bước vào với cái khay nhỏ trên có b́nh cà phê với cái dĩa có hai bánh bích quy, cô ta đặt xuống cạnh Tuppence.

-   Cô Packard nghĩ rằng có thể bà cần một tách cà phê, cô nói .

-   Ô. Cám ơn.

Cô gái lại bước ta và bà Lancaster nói.

-   Của cô đó, cô thấy đấy. Họ rất sâu sắc, phải không nào?

-   Vâng, thật thế.

Tuppence rót cà phê và bắt đầu uống. Trong một lúc hai người phụ nữ ngồi im lặng, Tuppence lấy dĩa bích quy mời nhưng bà già lắc đầu.

-   Không cám ơn. Tôi chỉ thích sữa trơn của ḿnh thôi.

Bà ta đặt cái li không xuống và ngồi dựa lưng vào ghế, đôi mắt khép hờ. Tuppence nghĩ có lẽ đây là giấc ngủ ngắn vào buổi sáng v́ vậy cô giữ im lặng. Tuy nhiên th́nh ĺnh, bà Lancaster dường như giật ḿnh thức giấc lần nữa. Mắt bà mở to, bà nh́n Tuppence nói. ‘ tôi thấy cô đang nh́n vô ḷ sưởi’.

-   Ô, tôi ư? Tuppence hỏi lại, hơi giật ḿnh.

-   Vâng. Tôi tự hỏi -  bà ta đưa người về phía trước rồi hạ thấp giọng -  tha lỗi cho tôi, có phải đó là đứa con tội nghiệp của cô không?

Tuppence , hơi lùi lại, ngập ngừng.

-   Tôi -  tôi không nghĩ vậy.

-   Tôi tự hỏi. Tôi nghĩ có lẽ cô đến v́ lí do nào đó. Một kẻ nào đó phải đến một lúc nào đó. Có lẽ họ sẽ đến. Và nh́n vô ḷ sưởi. Đó là nơi nó ở, cô biết mà. Phía sau ḷ sưởi.

-   Ô, Tuppence nói. Ô, có phải không?

-   Luôn luôn cùng một lần, bà Lancaster thấp giọng. Luôn luôn cùng giờ  đó. Bà ta nh́n lên chiếc đồng hồ trên giá treo trên ḷ sưởi. Tuppence cũng nh́n lên. Mười một giờ mười phút. Mười một giờ mười. Phải, luôn luôn cùng một giờ mỗi sáng.

Bà ta thở dài. Người ta không hiểu -  tôi nói với họ cái tôi biết -  nhưng họ không tin tôi!

Tuppence nhẹ người ngay lúc cánh cửa mở ra và Tommy đi vào. Cô đứng lên.

-   Em đây. Em sẵn sàng rồi. Cô đi về hướng cánh cửa quay đầu lại nói, tạm biệt, bà Lancaster.

-   Làm sao anh lên đây được? Cô hỏi Tommy khi họ xuất hiện trong pḥng tiền sảnh.

-   Sau khi em rời khỏi, như một ngôi nhà bốc lửa.

-   Dường như em có một ảnh hưởng xấu với d́, phải không? Trong chừng mức nào đó, khá vui.

-   Tại sao lại vui?

-   Ơ tuổi em, Tuppence nói, với vẻ ngoài mảnh mai đáng chán với khuôn mặt xinh xắn đáng kính, thật dễ chịu khi nghĩ đem gán anh cho một người phụ nữ duyên dáng nhưng gợi t́nh gây tai hoạ chết người.

-   Đồ ngốc, Tommy bóp chặt cánh tay cô tha thiết. Em đang vinh hạnh ở với ai thế? Bà ấy có vẻ là một quư bà yếu đuối xinh đẹp.

-   Bà ấy rất đẹp, Tuppence đáp. Một sinh linh khốn khổ, em nghĩ thế. Nhưng là những con dơi bất hạnh.

-   Những con dơi?

-   Phải. Chừng như nghĩ có một đứa trẻ chết phía sau ḷ sưởi hay một cái ǵ đó tương tự. Bà ấy hỏi có phải là đứa trẻ tội nghiệp của cô không.

-   Khá căng thẳng đấy. Tôi cho rằng hẳn nơi đây phải có một số người hơi điên, cũng như những người thân ruột già cả b́nh thường không có chi làm ph́ền họ

cả ngoài tuổi tác. C̣n nữa, bà ấy cũng khá đẹp.

-   Bà ấy đẹp chớ sao, Tuppence đáp. Đẹp và ngọt ngào, em nghĩ thế. Em tự hỏi chính xác những tưởng tượng của bà ấy là cái ǵ và tại sao.

Cô Packard bất ngờ xuất hiện lần nữa.

-   Tạm biệt, bà Beresford. Tôi hi vọng họ đă mang cà phê cho bà rồi chứ?

-   Vâng, cám ơn cô, họ mang rồi.

-   Rất tử tế việc bà đă đến, tôi tin vậy. Cô Packard nói. Quay về hướng Tommy, cô nói,’ và tôi biết cô Fanshawe lấy làm vui chuyện ông đến thăm lắm chứ. Tôi rất tiếc cô thô lỗ với vợ ông.

-   Tôi nghĩ chuyện ấy cũng cho d́ nhiều niềm vui. Tuppence đáp.

-   Phải, bà hoàn toàn có lí. Bà ấy thích thô lỗ với mọi người. Không may bà làm việc ấy khá tốt.

-   Và bà thực hành nghệ thuật thường xuyên khi có thể. Tommy tiếp lời.

-   Ông rất hiểu biết, cả hai người đấy.

-   Bà già tôi đang nói chuyện, bà Lancaster, tôi nghĩ đó là tên bà?

-   Vâng, bà Lancaster. Chúng tôi rất mến bà.

-   Bà ấy - có phải là một người hơi ḱ dị?

-   Bà ấy có nhiều tưởng tượng. Cô Packard cười dễ dăi. Ơ đây chúng tôi có nhiều người giàu óc tưởng tượng. Họ là những người hoàn toàn vô hại. Nhưng -  họ ở đó. Những sự việc họ tin đă xảy tới cho họ. Hay cho những người khác. Chúng tôi cố không chú ư, không khuyến khích họ. Chỉ cố làm cho điều ấy ít quan trọng hơn thôi. Tôi nghĩ thật ra đó chỉ là sự sử dung óc tưởng tượng, một thứ ảo giác họ thích đắm ḿnh vào. Một cái ǵ đó kích thích hay buồn rầu và bi kịch. Cái đó không quan trọng. Nhưng không phải là sự ngược đăi chứng điên cuồng, tạ ơn Chúa. Không bao giờ là điều ấy.

-   Chuyện ấy qua rồi, Tommy nói với tiếng thở dài, khi anh chui vào xe. Chúng ḿnh không cần đến nữa ít nhất trong sáu tháng.

Nhưng họ không cần đi thăm bà trong sáu tháng, v́ ba tuần sau d́ Ada chết trong giấc ngủ.

v    .

              


2.MỘT LỄ TANG

 

-   Có phải lễ tang th́ khá buồn không? Tuppence nói.

Họ vừa mới trở về sau tang lễ d́ Ada, đám tang tổ chức tại một làng quê ở Lincolshire nơi hầu hết gia đ́nh và tổ tiên d́ Ada được chôn cất kéo theo sau một cuộc hành tŕnh bằng xe hoả dài dặc và khó chịu.

-   Vậy em mong chờ ǵ ở một đám tang? Tommy sáng suốt hỏi lại. Một khung cảnh vui vẻ điên khùng chăng?

-   Tại một số nơi th́ có thể. Em muốn nói người Ai nhĩ lan thụ hưởng cái thú thức ngủ với người chết trước khi đem chôn. Thoạt họ gào thét khóc than thảm thiết rồi uống rượu thật nhiều vào và biểu lộ niềm vui điên cuồng không giải thích được. Uống? Cô nói thêm, nh́n về hướng tủ đựng chén bát.

Đúng nguyên tắc Tommy bước tới và mang lại cho cô một thức uống anh cho là thích hợp. Một li White Lady.

-   Chính xác.

Cô dở chiếc mũ màu đen ném nó qua căn pḥng đồng thời trợt bỏ chiếc áo dài cùng màu.

-   Em ghét thương tiếc cho cái chết của người khác. Nó luôn luôn sặc mùi long năo người ta để dành một nơi nào đó.

-   Em không cần thương tiếc làm ǵ cho mệt. Người ta chỉ dự lễ tang trong ḷng thôi.

-   Ô không, em hiểu chứ. Vài phút nữa em sẽ lên lầu thay một chiếc áo đỏ cho mọi việc vui lên. Anh có thể lấy cho em một li White lady khác.

-   Thật ư, Tuppence, anh không có ư kiến cho rằng tang lễ sẽ biến thành bữa tiệc t́nh cảm đâu đấy.

-   Th́ em nói lễ tang buồn mà, Tuppence nói khi cô tái xuất hiện một hai phút sau, mặc một bộ đồ màu đỏ hạt dâu chói ngời với một con thằn lằn gắn hồng ngọc và kim cương trên vai áo. ‘ bởi v́ những lễ tang như lễ tang d́ Ada th́ buồn. Em muốn nói những người già không có nhiều hoa. Không có người nức nở khịt mũi đứng quanh. Một người nào đó già và cô đơn sẽ rất tinh ư.

-   Anh đáng phải nghĩ em sẽ dễ dàng chịu đựng hơn nếu đó là đám tang của anh. Ví dụ thế.

-   Đó là chỗ anh hoàn toàn sai lầm. Em đặc biệt không muốn nghĩ đến đám tang của anh v́ em thích chết trước anh hơn. Nhưng em muốn nói, dù sao chăng nữa đám táng sẽ là một cuộc liên hoan cuồng loạn của nỗi buồn.

-   Với những đường viền đen à?

-   Em chưa nghĩ đến những đường viền đen nhưng đó là một ư kiến tốt. Vả lại, dịch vụ tang lễ khá tuyệt vời. Nó làm cho bạn cảm thấy được nâng cao tinh thần. Nỗi buồn thật là có thật. Nó làm bạn cảm thấy khó chịu nhưng nỗi buồn lại Tạo Nên một điều ǵ đó đối với bạn. Em muốn nói, nó phát triển giống như mồ hôi.

-   Thật thế sao, Tuppence, anh hiểu những lưu ư của em về cái chết của anh và ảnh hưởng của nó sẽ phủ lên em một sở thích cực ḱ tệ hại. Anh không thích thế. Thôi hăy quên chuyện lễ tang đi.

-   Em đồng ư. Hăy quên đi.

-   Hạt đậu già tội nghiệp đă đi rồi, Tommy nói, và bà đi hoàn toàn b́nh yên không đau đớn. Vậy hăy để nó lại đó. Tốt hơn ḿnh nên làm sáng tỏ tất cả cái này, anh nghĩ thế.

Anh bước tới bàn viết và xáo động một số giấy tờ.

-   Nào tôi để thư của ông Rockbury đâu nhỉ?

-   Ông Rockbury là ai? Ô, anh muốn nói vị luật sư đă viết thư cho anh ấy à.

-   Phải. Về chuyện kết toán những công việc của d́. Giờ đây anh là người duy nhất c̣n lại của gia đ́nh.

-   Đáng tiếc bà không có một gia tài để lại cho anh.

-   Nếu d́ có một gia tài d́ đă để lại cho Nhà nuôi Mèo, tài sản bà để lại cho chúng trong di chúc gần như sẽ ngốn sạch tất cả tín phiếu để dành. Không có chi c̣n lại nhiều đến tay anh cả. Dù sao anh cũng không cần hay khao khát tiền của d́.

-   Tại sao bà lại yêu mèo?

-   Tôi không biết. Anh nghĩ vậy thôi. Chưa bao giờ anh nghe bà nhắc đến chúng. Anh tin thế. Tommy nói giọng trầm tư, bà thường lấy làm vui thích khi nói với những người bạn đến thăm bà “tôi để cho chị một ít đồ trong di chúc của tôi, bạn thân mến” hay: “ con bọ trang sức chị thích tôi sẽ để lại cho chị trong di chúc của tôi.” Thật sự bà không để lại cái chi cho ai ngoại trừ cho Nhà Nuôi mèo.

-   Em cá bà lẩn tránh việc bị đuổi ra khỏi nơi ấy thôi. Em chỉ có thể hiểu qua lời bà nói tất cả những chuyện về những người bạn già của bà mà anh kể lại - hay cứ tạm gọi là những người bạn già v́ em không nghĩ họ là những người bà thực sự yêu mến. Bà chỉ thích cái thú dẫn họ đi lên lối ṃn trong vườn. Dám nói bà ấy là con quỷ già, phải không nào? Điều mơ hồ không giải thích được trong một chừng mực nào đó người ta thích bà v́ bà là một con quỷ già. Đó là một cái ǵ gọi là có khả năng kiếm được chút ít niềm vui từ cuộc sống khi người ta già và dính chặt vào Viện dưỡng lăo. Chúng ta có nên trở lại Sunny Ridgre không?

Bức thư khác đâu rồi? Lá thư từ cô Packard ấy? Vâng, nó đây rồi. Tôi để nó chung với thư ông Rockbury. Vâng, tôi hiểu, cô ấy nói ở đó có một số đồ đạc bây giờ thuộc về tài sản của tôi. Khi đến ở đó bà có mang theo một ít đồ dùng. Dĩ nhiên có những tư trang cá nhân. Quần áo và đồ đạc như vậy. Anh nghĩ một ai đó sẽ phải được chính thức chấp nhận. Thư từ và đồ đạc. Anh là người được uỷ thác thực hiện di chúc, v́ thế anh cho đó là bổn phận của anh. Anh nghĩ chúng ta không thật sự cần món ǵ ở đó cả, phải không? Ngoại trừ một bàn giấy nhỏ mà anh luôn luôn thích. Anh tin nó thuộc về chú William già.

-   Anh có thể lấy như một kỉ vật. Mặt khác, em giả thiết, ta chỉ gởi những đồ được bán đấu giá thôi.

- Vậy anh không cần đến đó nữa.

-   C̣n em nghĩ em lại thích đến đó.

-   Em thích thế à? Tại sao? Đối với em không phải là một điều khá buồn chán ư?

-   Sao, xem hết những đồ đạc của d́? Không, em không nghĩ thế. Em nghĩ em ṭ ṃ. Những lá thư và đồ nữ trang cổ luôn gây sự chú ư và người ta phải tự ḿnh xem xét chúng, chứ không chỉ gởi chúng bán đấu giá hay để cho người lạ xem xét tỉ mỉ. Nào, bây giờ chúng ta đi xem hết đồ vật coi thử có cái chi ta muốn giữ lại và mặt khác trả tiền.

-   Tại sao em muốn đi? Em hẳn có một lí do khác. Phải không?

-   Anh thân yêu, thật khó chịu khi cưới một người họ biết quá nhiều về ḿnh.

-   Vậy em Có một lí do khác phải không?

-   Không phải là lí do thật.

-   Tiếp đi, Tuppence. Em đâu có thích chi chuyện chuyển giao đồ đạc của kẻ khác.

-   Cái đó, em cho là bổn phận của ḿnh. Tuppence quả quyết nói. Không, chỉ có lí do duy nhất là...

-   Tiếp đi, khạc ra nào.

-   Em thích gặp lại - con chó nhỏ già một lần nữa.

-   Sao, cái bà nghĩ có một đứa trẻ chết sau ḷ sưởi đó hả?

-   Phải, Tuppence đáp. Em thích tṛ chuyện với bà ấy lần nữa. Em muốn biết có cái ǵ trong kí ức bà khi bà nói tất cả những chuyện này. Có phải đó là cái bà nhớ lại hay đó là cái bà tưởng tượng? Em càng nghĩ lại thấy chuyện ấy ḱ lạ quá. Phải chăng đó là một loại chuyện kể bà viết trong trí hay là có -  thật sự có một cái ǵ xảy ra về một cái ḷ sưởi hay một đứa trẻ chết. Cái ǵ làm bà ấy nghĩ rằng đứa trẻ chết có thể là con của em? Có phải em có cái vẻ như là có một đứa con chết không?

-   Anh không hiểu em trông đợi kẻ nào đó có cái vẻ như có đứa con chết như thế nào cơ chứ. Tommy đáp. Anh không nghĩ vậy. Dù sao, Tuppence, phận sự của ḿnh là đi và em có thể tự ḿnh bí mật lấy làm vui về cái tánh tàn nhẫn của ḿnh chứ.

v     

v     

                          

 

 

3.BỨC TRANH VỀ MỘT NGÔI NHÀ

 

Tuppence hít một hơi thở sâu.

-   Cũng vậy thôi.

Cô và Tommy đang đứng trước bậc cửa nhà Sunny Ridge.

-   Tại sao lại không?

- Em không biết. Đó chỉ là một cảm giác em có - một cái ǵ đó liên quan đến thời gian. Thời gian trôi một tốc độ khác nhau trong những chỗ khác nhau. Anh trở về một số nơi nào đó và anh cảm thấy thời gian đă nổ tung nhanh kinh khủng và tất cả cũng gần giống như những chuyện sẽ xảy ra - và thay đổi. Nhưng đây - Tommy, anh c̣n nhớ Ostend không?

-   Ostend? Chúng ta đă đến đó trong tuần trăng mật. Dĩ nhiên anh nhớ.

-   Và anh có nhớ bảng hiệu đă viết? TRAMSTILLSTAND - nó làm chúng ta cười. Bảng hiệu ḱ dị thật.

-   Anh nghĩ đó là Knocle -  không phải Ostend.

- Đừng lo - anh đă nhớ lại rồi. Chỗ này giống như cái từ đó - Tramstillstand -  một từ được tạo ra bằng cách ghép âm và nghĩa của hai từ khác. Thời gian đứng yên - không có ǵ xảy ra ở đây cả. Thời gian chỉ đứng bất động. Ơ đây mọi việc đang xảy ra cũng như vậy. Chỉ có những chuyện khác xoay tṛn.

- Anh không hiểu em đang nói về chuyện ǵ. Em có định đứng đây suốt ngày nói về thời gian thậm chí không rung chuông không? - D́ Ada không c̣n ở đây nữa, đó là một việc. Chuyện ấy là khác. Anh bấm chuông.

- Chỉ có một chuyện duy nhất là khác. Bà già của tôi sẽ uống sữa và nói về những ḷ sửơi, và bà Một - kẻ  - nào đó - hay - kẻ khác sẽ nuốt một cái đê hay một cái muỗng hay một phụ nữ nhỏ nhắn không thể tin được sẽ lao ra khỏi pḥng và kêu lên the thé đ̣i hỏi coca của bà, cô Packard sẽ xuống lầu và - Cánh cửa bật mở. Một phụ nữ trẻ trong tấm áo choàng nylon nói: “ ông và bà Beresford? Cô Packard đang đợi ông bà.”

Người phụ nữ trẻ vừa mới chỉ cho họ vào cùng căn pḥng  khách như trước th́ cô Packard xuống lầu và chào họ. Phong thái của cô rất thích hợp không quá nhanh nhẹn như thường lệ. Nó trang nghiêm, và có phần buồn cho cái chết của d́ Ada nữa -  không nhiều quá - có lẽ đang bối rối. Cô là chuyên gia về tổng số chính xác lời chia buồn có thể chấp nhận được.

Ba năm ghi dấu và mười năm là khoảng thời gian của đời người mà Thánh kinh có thể chấp nhận được, và những cái chết trong ṭa nhà công cọng của cô ít khi xảy ra dưới con số đó. Chúng được mong đợi và chúng đă xảy ra.

- Quư hoá quá ông bà đă đến. Tôi đă sắp đặt gọn gàng để ông xem xét hết. Tôi vui mừng việc ông bà có thể đến ngay bởi thực ra tôi đă có ba hay bốn người đang chờ một chỗ trống đă đến đây rồi. Ông sẽ hiểu thôi, tôi chắc là vậy, xin đừng nghĩ rằng ở một khía cạnh nào đó tôi cố dục ông.

-   Không đâu, tất nhiên chúng tôi hoàn toàn hiểu.

-   Tất cả vẫn c̣n trong pḥng cô Fanshawe ở, cô Packard giải thích.

Cô Packard mở cánh cửa pḥng nơi họ đă gặp d́ Ada. Nó mang dáng vẻ một căn pḥng trơ trụi khi chiếc giường phủ một chiếc khăn trải giường bụi bặm bày ra bên dưới  h́nh thù những tấm chăn gấp lại cùng những chiếc gối được xếp ngay ngắn.

Những cánh cửa tủ đứng đựng quần áo c̣n mở và những áo quần c̣n giữ lại được xếp ngay ngắn đầu giường.

Cô thường làm ǵ - tôi muốn nói, nói chung người ta thường làm ǵ với quần áo, đố đạc như thế này? Tuppence hỏi.

Cô Packard, lơi đời và được việc không thay đổi.

-   Tôi có thể cho bà tên của một hay ba tổ chức họ rất vui có những thứ đồ như vậy. Bà ấy cũng có một khăn quàng vai bằng lông thú với một áo choàng chất lượng tốt nhưng tôi nghĩ cô sẽ không cần dùng? Có lẽ bà có những hội từ thiện riêng nơi bà cần tống khứ một số đồ đạc.

Tuppence lắc đầu.

-   Bà ấy có một số nữ trang. Tôi chuyển vào chỗ an toàn rồi. Bà sẽ t́m thấy bên ngăn kéo bàn phấn bên tay phải. Tôi cất nó vào đó trước khi bà đến.

-   Cám ơn cô rất nhiều. Tommy nói, về những phiền phức cô gánh lấy.

Tuppence đang nh́n chăm chăm bức tranh treo trên giá trên ḷ sưởi. Đó là một bức sơn dầu tŕnh bày một ngôi nhà màu hồng lạt đứng kề bên một con kênh với chiếc cầu nhỏ có một nhịp h́nh ṿm cung bắc ngang. Bên dưới chiếc cầu nhỏ có vẽ một chiếc thuyền dựa vào bờ kênh. Đằng xa là hai cây dương liễu. Đó là một khung cảnh nhỏ rất dễ chịu nhưng dù sao Tommy tự hỏi v́ lẽ ǵ Tuppence lại đứng nh́n với vẻ nghiêm trọng đến vậy.

-   Thật mơ hồ. Tuppence th́ thầm.

Tommy nh́n cô thắc mắc. Những sự việc mà Tuppence gọi là mơ hồ, theo kinh  nghiệm lâu năm của Tommy, không thực sự được diễn tả bằng một tính từ như thế.

-   Em muốn nói ǵ, Tuppence?

-   Không thể tin được. Trước kia khi ở đây không bao giờ em chú ư tới bức tranh. Nhưng chuyện ḱ dị là em đă nh́n thấy ngôi nhà ở đâu đó. Hoặc có lẽ đó là một ngôi nhà giống hệt ngôi nhà mà em đă thấy. Em nhớ khá rơ. Điều mơ hồ là em không thể nhớ khi nào và ở đâu.

-   Anh nghĩ em chú ư mà không thật sự chú ư rằng ḿnh đang chú ư. Tommy nói, cảm thấy sự chọn lựa những từ vụng về gần như tẻ nhạt và cùng một mức độ đau đớn như cái từ” mơ hồ” của Tuppence được lập lại nhiều lần để nhấn mạnh.

-   Anh có để ư đến bức tranh không, Tommy, khi chúng ta đến đây lần trước?

-   Không, nhưng nhất là anh không để ư lắm.

-   Bức tranh kia, cô Packard nói. Không, ông sẽ không nh́n thấy nó lần trước khi ông đến đây bởi v́ tôi chắc hầu như nó không treo trên cái giá đó. Thật ra đó là một bức tranh thuộc tài sản của một trong những người khách của chúng tôi , bà ấy tặng lại cho d́ của ông. Cô Fanshawe một hai lần bày tỏ ḷng hâm mộ của ḿnh đối với bức tranh ấy và bà già kia đă biến nó thành một món quà rồi yêu cầu d́ ông nhận. Thế thôi.

-   Tôi hiểu. Dĩ nhiên trước kia tôi không nh́n thấy nó tại đây. Nhưng tôi vẫn có cảm tưởng ḿnh hiểu rất rơ ngôi nhà. Anh có biết không, Tommy?

-   Không. Tommy đáp.

-   Bây giờ tôi xin kiếu. Cô Packard nhanh miệng. Lúc nào ông bà cần tôi sẽ có mặt.

Với một nụ cười cô Packard gật đầu rời khỏi pḥng, khép cửa lại sau lưng.

-   Em nghĩ  em không thích miệng lưỡi của người đàn bà đó.

-   Có chi sai lầm chăng?

-   Quá nhiều. Hoặc quá lớn - “ tốt hơn hết là ăn thịt cháu.” Như bà ngoại của Cô bé quàng khăn đỏ.

-   Hôm nay h́nh như em mang một tâm trạng khác thường, Tuppence.

-   Có thế. Em luôn nghĩ cô Packard rất dễ thương. Nhưng bữa nay đối với em, h́nh như cô ấy hơi xúi quẩy. Anh có khi nào nghĩ thế không?

Không, anh không nghĩ. Tiếp tục đi, nên tiếp tục công việc  chúng ta đến đây để làm - nh́n qua “ số tư trang cá nhân” của d́ Ada nào, như những luật sư đă gọi. Kia là bàn giấy của chú William mà anh đă nói với em. Em thích nó chứ?

-   Tuyệt vời. Chức vụ quan Nhiếp chính đây, em sẽ nghĩ vậy đó. Thật tốt đối với những người già đến đây có thể mang theo ḿnh một số đồ vật riêng tư. Em không muốn những cái ghế dựa bằng lông ngựa, nhưng em thích cái bàn nhỏ dành cho công việc phụ nữ. Nó đúng là cái ta cần trong cái góc bên cửa sổ nơi chúng ta để những thứ linh tinh ghê tởm.

-   Được rồi, anh sẽ viết cái giấy nhỏ ghi rơ hai thứ.

-   Và chúng ḿnh sẽ có bức tranh treo trên giá trên ḷ sưởi. Nó là một bức tranh cực ḱ quyến rũ và em hoàn toàn chắc em đă thấy một nơi nào đó rồi. Bây giờ, hăy nh́n các món nữ trang nào.

Họ mở ngăn kéo bàn phấn. Có một bộ những món nữ trang nhỏ một ṿng Florentine và những bông tai một chiếc nhẫn nạm đá nhiều màu.

-   Trước đây em đă thấy những món này. Thường chúng mang một tên gọi. Đôi khi rất thân thiết. Kim cương, ngọc lục bảo, thạch anh tím, không, nó không thân thiết. Em nghĩ thật sự không phải vậy. Em không thể tưởng tượng có ai đó tặng d́ Ada một chiếc nhẫn quyến rũ đắt tiền. Hồng ngọc, ngọc lục bảo -  cái khó là không biết bắt đầu từ đâu. Em sẽ thử lại lần nữa. Hồng ngọc, ngọc lục bảo, viên hồng ngọc khác, không, em nghĩ đó là một viên hồng lựu ngọc với một viên thạch anh tím và đá khác có màu hồng, lần này phải là một viên hồng ngọc và một viên kim cương nhỏ nằm ở giữa. Ô, dĩ nhiên, Đáng chú ư lắm. Thật sự khá tốt. Vậy là tính đa cảm và kiểu cổ.

Cô trợt nó trên ngón tay.

-   Em nghĩ Deborah có thể thích món này. Bộ Florentine. Nó say mê đồ thời Vicorian dễ sợ. Ngày nay nhiều người như nó lắm. Bây giờ, em nghĩ ḿnh nên coi áo quần. Điều này luôn khá khủng khiếp. Đây là cái khăn lông thú. Hoàn toàn giá trị. Em nghĩ vậy. Em không cần nó. Em tự hỏi có ai đó ở đây -  bất cứ người nào đặc biệt tốt với d́ Ada - hay có lẽ một người bạn đặc biệt giữa những người bạn khác - em muốn nói, những người đến thăm. Người ta gọi họ là khách tham quan hay khách đến thăm, em có để ư mà. Nếu thế tốt hơn nên tặng cô ta cái khăn lông. Nó làm bằng da lông chồn bắc cực thật. Chúng ta sẽ hỏi cô Packard vậy. Những thứ c̣n lại có thể đem đến hội từ thiện. Vậy là tất cả đă giải quyết xong, phải vậy không? Nào bây giờ ḿnh sẽ đi t́m cô Packard. Tạm biệt, d́ Ada. Cô nói lớn, đôi mắt quay về hướng giường ngủ. ‘ cháu vui mừng đă đến thăm d́ lần cuối. Cháu tiếc d́ đă không ưa cháu, nhưng để lấy làm vui d́ Không ưa cháu và c̣n nói những lời thô lỗ, cháu không tị nạnh với d́ đâu. Hẳn d́ có Một số óc hài hước nào đó. Chúng cháu không quên d́. Chúng cháu sẽ nhớ đến d́ khi nh́n cái bàn của chú William.’

Họ đi vào t́m cô Packard. Tommy giải thích họ sẽ sắp xếp để cái bàn giấy và cái bàn gia công nhỏ buộc phải gởi đến địa chỉ của họ và ông sẽ thu xếp với những nhà bán đấu giá địa phương loại bỏ phần đồ đạc c̣n lại. Nếu cô Packard không phiền ông sẽ để cho bất cứ đoàn thể nào sẵn sàng nhận quần áo nơi cô.

-   Tôi không biết ở đây có ai thích cái khăn lông chồn này không, Tuppence nói. Đây là cái khăn đẹp. Có lẽ, một trong những người bạn đặc biệt của d́? hay có lẽ một trong những y tá đang chờ một ân huệ đặc biệt nơi d́ Ada?

-   Đó là một ư tưởng rất hay, thưa bà Beresford. Tôi e cô Fanshawe không có một người bạn đặc biệt nào giữa những người khách đến tham quan, nhưng cô O’Keefe, một y tá đă làm nhiều việc dọn dẹp cho bà có ḷng tốt đặc biệt và khéo ở tôi nghĩ cô ấy sẽ rất vui ḷng và vinh dự nhận cái khăn ấy.

-   C̣n bức tranh treo trên ḷ sưởi, tôi thích có nó - mà có lẽ thuộc về tài sản của ai đă tặng nó cho bà ấy, sẽ muốn lấy lại bức tranh đó. Tôi nghĩ chúng ta phải hỏi cô -- ?

Cô Packard ngắt lời. “Tôi rất tiếc, bà Beresford, tôi e chúng tôi không thể làm điều ấy. Bức tranh ấy của bà Lancaster tặng cô Fanshawe bà này không c̣n ở với chúng tôi nữa.”

-   Không c̣n ở với cô nữa sao? Tuppence kinh ngạc. Một bà Lancaster nào đó? Cái người tôi thấy lần sau cùng tôi ở đây -  với mái tóc trắng chải ngược ra sau. Bà ấy đang uống sữa trong pḥng khách dưới lầu. Cô nói bà ấy đi xa rồi?    

-   Phải. Tất cả hơi bất ngờ. Một người bà con của bà ta, một bà Johnson nào đó, đă đem bà ấy đi xa cách đây một tuần. Bà Johnson từ Phi Châu nơi bà ấy hiện đang sống trong bốn hay năm năm sau cùng trở về -  hoàn toàn bất ngờ. Từ khi vợ chồng bà ấy thuê một căn nhà tại nước Anh, th́ bây giờ bà có thể chăm sóc bà Lancaster tại nhà riêng của bà. Tôi nghĩ bà Lancaster thật sự không muốn từ bỏ chúng tôi. Bà ấy trở nên quá - bảo thủ, bà sống rất tốt với mọi người và hạnh phúc. Bà ta rất phiền muộn, buồn phát khóc về chuyện ra đi - nhưng ai có thể làm ǵ được? Thế mới hay là thật ra bà ấy không biết ǵ, dĩ nhiên bởi v́ nhà Johnson trả tiền cho việc bà ấy ở đây. Tôi đă gợi ư rằng khi bà sống ở đây quá lâu và đă làm cho bà ấy an tâm nhiều rồi, cách hợp lí nhất là nên để bà ta ở lại

-   Bà Lancaster đă ở đây với cô bao lâu? Tuppence hỏi.

-   Gần sáu năm, tôi nghĩ thế. Phải, độ chừng đó. Điều đó giải thích tại sao, bà ấy thật sự cảm thấy đây là mái nhà của bà.

-   Vâng, tôi có thể hiểu điều đó. Cô cau mày căng thẳng liếc Tommy rồi vênh cái cằm bướng bỉnh vào không khí.

-   Tôi tiếc bà ấy đă đi. Lần trước khi đang nói chuyện với bà ấy ở đây tôi có cảm tưởng - khuôn mặt bà h́nh như rất quen thuộc đối với tôi. Rồi th́ sau này điều đó trở lại trong trí nhớ rằng tôi đă gặp bà với bà bạn cũ của tôi, một bà Blenkinsop nào đó. Tôi nghĩ thế khi tôi trở lại thăm d́ Ada lần nữa, tôi sẽ t́m hiểu xem có đúng thế không. Nhưng tất nhiên bà đă trở lại với người của bà ấy th́ điều đó lại khác.

-   Tôi hoàn toàn hiểu, bà Beresford. Nếu trong một thời gian ngắn bất cứ người khách nào đến thăm ở lại tiếp xúc với một số bạn già cũ hay ai đó biết những ngừơi bà con của ḿnh, điều này tạo ra sự khác biệt lớn. Tôi không thể nhớ bà ấy có từng nhắc đến một bà Blenkinsop nào đó chưa, tôi cũng không thể cho rằng trong trường hợp này điều này có thể xảy ra.

-   Cô có thể nói cho tôi thêm một ít về bà ấy không, bà con của bà ấy là ai, bà ấy bắt đầu tới đây như thế nào?

-   Thật sự có rất ít điều để nói. Như tôi nói, cách đây chừng sáu năm tôi nhận được thư của bà Johnson nhờ điều tra về Nhà dưỡng lăo, rồi bà Johnson tự ḿnh đến đây kiểm tra lại. Bà nói bà đă lưu ư đến Sunny Ridge từ một người bạn và bà đ̣i hỏi những điều kiện và những thứ tương tự -  rồi bà ấy đi. Cách đây một tuần hay nửa tháng sau đó chúng tôi nhận được một lá thư từ một hăng luật sư ở London đặt những câu hỏi rộng hơn, cuối cùng họ viết thư nói rằng họ rất muốn chúng tôi chấp nhận bà Lancaster phần bà Johnson sẽ đưa bà ấy đến đây khoảng chừng một tuần nữa nếu chúng tôi c̣n một chỗ trống. T́nh cờ chúng tôi lại có, bà Johnson đưa bà Lancaster lại đây ngay c̣n bà kia th́ thích ngay cái chỗ và căn pḥng chúng tôi dành cho bà. Bà Johnson bảo bà Lancaster thích mang theo ḿnh một số đồ đạc riêng, tôi hoàn toàn đồng ư, bởi v́ người ta thường t́m thấy hạnh phúc khi làm điều đó.Vậy là mọi sự được thu xếp rất thoả đáng. Bà Johnson giải thích bà Lancaster là một người bà con của chồng bà, không gần lắm, nhưng họ cảm thấy lo lắng v́ cả hai sắp đi Châu phi - tôi nghĩ là Nigeria, chồng bà ấy đang đám nhận một chức vụ ở đó và có lẽ họ sẽ ở đó vài năm trước khi trở về nước Anh, do đó họ không có nhà cho bà Lancaster ở, họ muốn được bảo đảm bà ấy được nhận vào một chỗ nơi bà ấy cảm thấy hạnh phúc. Thật ra tất cả được thu xếp rất mỹ măn c̣n bà Lancaster th́ rất an tâm ở đây.

-   Tôi hiểu rồi.

-   Mọi người ở đây rất thích bà Lancaster. Bà ấy hơi - bà biết những ǵ tôi muốn nói, bà ấy quên mọi việc, lẫn lộn đồ đạc và đôi khi không thể nhớ tên tuổi cùng đia chỉ.

-   Bà ấy nhận được nhiều thư không? Tuppence nói. Tôi muốn nói thư và quà tặng từ nước ngoài?

-   Tôi cho rằng bà Johnson - có một hai lần viết thư từ Châu phi nhưng không phải sau năm đầu tiên. Bà biết không, tôi sợ là, người ta quên. Đặc biệt khi người ta đến một xứ sở mới, một đời sống khác, tôi nghĩ họ không giao thiệp thân mật với bà ấy bất cứ lúc nào họ thích. Chính xác th́ tôi cho rằng bà này chỉ là một người bà con xa, thuộc một danh gia vọng tộc, tất cả đối với họ có nghĩa thế mà thôi. Mọi xếp đặt thuộc phạm vi tài chính đều thông qua luật sư, ông Eccles, một hăng rất tốt, có danh tiếng. Thật sự trước đó chúng tôi có tiếp xúc một hai lần với ông ta v́ thế chúng tôi hiểu rơ về họ, cũng như họ hiểu rơ về chúng tôi. Nhưng tôi nghĩ đa số bạn bè và bà con của bà Lancaster đều đă qua đời v́ thế bà không có tin tức chi về họ cả, tôi cho rằng rất hiếm khi có ai đến thăm bà ấy. Khoảng chừng một năm sau có một người đàn ông rất đẹp trai đến, tôi nghĩ ông ta không hiểu rơ tính cách cá nhân của bà rơ lắm nhưng ông là bạn của ông Johnson và cũng nằm trong sở Thuộc địa hải ngoại. Tôi nghĩ ông ta chỉ đến đế bảo đảm bà ta mạnh khoẻ và hạnh phúc thôi.              

-   Và sau cùng, mọi người quên bà ấy.

-   Tôi e là thế. Thật buồn có phải không nào? Nhưng chuyện xảy ra đó lại b́nh thường hơn là bất b́nh thường nhé. May thay, những người khách đến thăm chúng tôi đa số kết bạn ở đây. Nói chung họ thân với ai có cùng kí ức hay sở thích, do đó mọi việc được giải quyết vui vẻ cả. Tôi nghĩ hầu hết không ai c̣n nhớ tới thời quá khứ nữa.

-   Vài người, tôi giả thiết là hơi - Tommy ngập ngừng t́m chữ - hơi - anh đưa tay lên trán rồi bỏ xuống. Tôi không biết nói thế nào.

-   Tôi hiểu những ǵ anh muốn nói rồi, cô Packard đáp thay. Chúng tôi không nhận những người bị bệnh tâm thần, ông hiểu mà, nhưng chúng tôi vẫn nhận những người mà ông gọi là những trường hợp tạm chấp nhận. Tôi muốn nói, những người hơi lăo suy - không thể tự chăm sóc ḿnh cho đàng hoàng được, họ có những tưởng tượng và ảo giác nhất định. Đôi khi họ tưởng tượng họ là nhân vật lịch sử. Trong một chừng mức nào đó khá vô hại. Ỡ đây chúng tôi có hai Marie Antoinettes, một trong hai người luôn nói về một cái ǵ gọi là Petit Trianon và uống nhiều sữa mà bà ta h́nh như thích hợp với chỗ này. Chúng tôi có một sinh linh già đáng yêu tự cho ḿnh là bà Curie rằng bà đă khám phá ra chất radium. Đọc báo thường xuyên, đối với bà là một thú vị lớn, đặc biệt với bất cứ tin tức về thả bom nguyên tử, hoặc những khám phá khoa học. Bà luôn giải thích bà và chồng bà đă khởi sự những thí nghiệm trên những lănh vực này. Những ảo giác vô hại là những thứ làm được việc giữ cho bạn hạnh phúc khi bạn già. Ông cũng biết, không phải lúc nào chúng cũng kéo dài. Mỗi ngày ông không là Marie Antoinette hay bà Curie. Thường thường nó kéo dài khoảng nửa tháng một lần. Tôi đoán chừng họ trở nên mệt mỏi v́ phải đóng măi một vai diễn. Dĩ nhiên chính sự bị lăng quên thường xuyên gây cho ngừơi ta nỗi đau khổ. Họ không thể nhớ ḿnh là ai nữa. Họ vẫn nói rằng họ quên một cái ǵ đó rất quan trọng và giá như họ có thể nhớ ra được. Đại loại như thế.

-   Tôi hiểu, Tuppence nói, cô lưỡng lự, rồi tiếp, bà Lancaster - có phải bà ấy luôn luôn nhớ lại những chuyện về cái ḷ sưởi đặc biệt trong pḥng khách không?, hay bất cứ một ḷ sưởi nào đó?

Cô Packard giật ḿnh - một ḷ sưởi ư? Tôi không hiểu những ǵ cô nói.

-   Đó là một điều bà ta nói mà tôi không hiểu. Có lẽ bà có một vài mối liên hệ không vui nào đó với một ḷ sưởi, hay đọc vài câu chuyện làm cho bà ta sợ hăi.

-   Có thể.

-   Tôi vẫn c̣n khá lo âu về một bức tranh bà ấy tặng cho d́ Ada.

-   Tôi thật ra nghĩ bà không cần phải lo, bà Beresford. Tôi cho là bây giờ bà ấy đă quên hết rồi. Tôi cho rằng bà ấy không đánh giá bức tranh đặc biệt lắm đâu. Bà ấy chỉ vui v́ cô Fanshawe hâm mộ nó quá và vui ḷng cho cô giữ nó thôi, tôi chắc bà ấy cũng vui ḷng tặng lại cho bà bởi v́ bà thích nó. Đó là một bức tranh đẹp, chính tôi cũng nghĩ thế. Tôi không hiểu biết mấy về tranh.

-   Tôi bảo bà những ǵ tôi  sẽ làm nhé. Tôi sẽ viết thư cho bà Johnson nếu cô cho tôi địa chỉ, và chỉ hỏi xem việc giữ lại bức tranh có ổn không thôi.

-      Tôi chỉ có địa chỉ là khách sạn tại London nơi họ đến -  tôi nghĩ là, khách sạn Cleveland, đường George, khu vực 1 hướng tây. Bà ấy đă thuê cho bà Lancaster ở đó chừng bốn năm ngày và sau này tôi nghĩ họ sẽ lưu lại với vài người bà con tại Scotland. Tôi hi vọng khách sạn Cleveland sẽ có một địa chỉ để chuyển thư.

-    Cám ơn cô -  c̣n bây giờ, về cái khăn lông thú của d́ Ada.

-    Tôi sẽ gọi cô O’ Keefe cho bà.

Cô ta ra khỏi pḥng.

-   Em và bà Blenkinsop của em. Tommy nói.

Tuppence có vẻ toại nguyện.

-   Một trong những sáng tạo mới nhất, em vui mừng có thể sử dụng cô ta. Em chỉ cố thử nghĩ một cái tên và bây giờ bà Blenkinsop xuất hiện trong trí. Có ǵ đáng buồn cười?

-   Cách đây đă lâu. Trong thời chiến không có nhiều gián điệp và hoạt động chống lại gián điệp dành cho chúng ta.    

-   Rủi thay. Không thể tin được - ở trong nhà khách đó -  sáng tạo ra một nhân vật mới cho ḿnh - em thật sự bắt đầu tin ḿnh là bà Blenkinsop.

-   Rất may mắn em đă lẩn tránh một cách an toàn. Một lần anh có nói với em, theo ư anh, em làm việc quá sức rồi.

-   Em không có. Em hoàn toàn b́nh thường. Một phụ nữ đẹp, hơi gàn, với ba đứa con là một điều quá sức chịu đựng.

-   Đó là những ǵ anh muốn nói. Một đứa con khá đủ. Ba đứa con là một gánh nặng vượt  quá sức chịu đựng của em.                                                      

-   Chúng trở nên quá hiện thực đối với em. Douglas, Andrew, và - ơn Chúa, em quên tên của đứa thứ ba rồi. Em biết chính xác chúng trông giống như thế nào những tính cách của chúng và đúng chỗ chúng đóng quân, về những lá thư em nhận được từ chúng em nói những chuyện hớ hênh  nhất.                      

-   Thôi, chuyện ấy qua rồi. Tommy nói. Không có ǵ để t́m hiểu nơi này nữa  -  quên bà Blenkinsop đi. Khi tôi chết và được chôn cất em hăy than khóc tôi một cách hợp lệ rồi t́m nơi cư trú cho ḿnh trong một căn nhà dành cho người có tuổi, tôi hi vọng em sẽ dành phần nửa thời gian nghĩ ḿnh là bà Blenkinsop.

-   Chỉ có một người đóng vai người thật việc thật th́ rất chán.

-   Tại sao em cho rằng người già muốn trở thành Mary Antoinette, madam Curie và tất cả những thứ c̣n lại?

-   Em cho là bởi v́ họ buồn chán. Người ta chán ngấy. Em chắc anh sẽ như thế nếu anh không thể dùng đôi chân để đi bộ, có lẽ những ngón tay anh cứng ngắt và anh không thể đan. Tuyệt vọng anh muốn t́m một việc ǵ đó để làm cho ḿnh vui do đó anh thử khoác lên người một số tính chất công cọng và khi anh làm vậy anh hiểu ḿnh trông như thế nào.

-   Bảo đảm là em có thể làm thế. Chúa giúp đỡ cho ngôi nhà dành cho người cao tuổi mà em đến. Hầu hết thời gian em sẽ là Cleopatre, anh hi vọng thế.

-   Em đâu phải là ngừơi nổi tiếng. Em sẽ là một kẻ nào đó như một người tớ gái giúp việc trong nhà bếp tại lâu đài của Cleves thuật lại tường tận vô số chuyện tầm phào tục tĩu mà em nghe được.

Cánh cửa bật mở, cô Packard xuất hiện cùng một người phụ nữ trong bộ đồng phục y tá, cao, mặt tàn nhang với mớ tóc đỏ dày.

-   Đây là cô O’Keefe - ông và bà Beresford. Họ có chuyện nói với cô. Tha lỗi cho tôi. Một bịnh nhân đang cần tôi.

Tuppence đúng nguyên tắc bày chiếc khăn lông chồn ra và cô O’Keefe ngây ngất liền.

-   Ồ! Đẹp quá. Quá tốt cho tôi. Bà đang cần nó mà - 

-   Không, tôi không cần. Nó quá lớn đối với tôi. Tôi nhỏ con. Nó chỉ hợp với ngừơi cao như cô. D́ Ada cao.

-   D́ ấy là một quư bà cao cả -  thời con gái chắc bà ấy đẹp lắm.

-   Tôi tin vậy. Tommy nói vẻ nghi ngờ. Chắc bà ấy là một người tánh t́nh thô bạo  để chăm sóc hả.

-   Đúng. Bà ấy là người nóng tính. Nhưng tinh thần bà ấy th́ vĩ đại. Không ǵ quật ngă bà ấy được. Bà cũng không ngốc. Ông sẽ ngạc nhiên về cách bà ấy bắt đầu hiểu mọi việc. Sắc như một cây kim.

-   Dù thế, bà ấy hay cáu giận.

-   Vâng, thật vậy. Nhưng đó là loại tiếng rên rỉ làm cho ông suy sụp - tất cả những lời phàn nàn than văn. Cô Fanshawe không bao giờ buồn chán cả. Những câu chuyện lớn bà ấy kể cho ông nghe về ngày xưa - cưỡi một con ngựa phi lên cầu thang một ngôi nhà miền quê khi c̣n là con gái -  hay bà nói thế -  bây giờ nó sẽ là sự thật chăng?

-   Tôi sẽ xem bà có dám làm điều đó không. Tommy  đáp.

-   Ông không bao giờ hiểu những ǵ ông có thể tin ở đây đâu. Những câu chuyện mà những người bạn thân yêu đến và kể cho ông nghe. Những tội ác mà họ nhận ra - chúng tôi phải báo cho cảnh sát biết ngay - nếu không, tất cả chúng tôi đều bị nguy hiểm.

-   Lần trước, khi chúng tôi đến đây có một người nào đó bị đầu độc. Tôi nhớ lại. Tuppence nói.

-   A, đó là bà Lockett. Nó xảy ra với bà ấy hàng ngày. Nhưng bà không cần cảnh sát, mà một bác sĩ được mời đến. Bà ta phát điên về những ông bác sĩ.

-   Và một ai đó - một phụ nữ bé nhỏ lớn tiếng đ̣i co ca.

-   Đó chắc là bà Moody. Linh hồn bé nhỏ, bà ấy đi rồi.

-   Cô muốn nói rời khỏi đây, đi xa?

-   Không, chứng nghẽn mạch máu vồ lấy bà ấy - rất bất ngờ. Bà là một trong những người rất tận tuỵ với cô Fanshawe - mà cô Fanshawe cũng không luôn luôn có thời gian dành cho bà -  luôn luôn nói chuyện chơi, khi bà có thời giờ.

-   Bà Lancaster cũng đi rồi, tôi nghe vậy.

-   Phải, ngươi của bà đến t́m bà. Sinh linh khốn khổ, bà không muốn đi.

-   Câu chuyện bà nói với tôi là ǵ - về cái ḷ sưởi trong pḥng khách?

 -   À ! Bà ấy có nhiều chuyện kể lắm, đó là một chuyện -  về những chuyện đă xảy ra đối với bà-  và những bí mật bà ấy biết - 

-   Có chuyện ǵ đó về một đưá trẻ -  một đứa trẻ bị bắt cóc hay bị giết - 

-   Thật ḱ lạ, những chuyện người ta nghĩ ra. TV thường không tạo cho họ những ư tưởng - 

-   Cô có thấy sự căng thẳng khi làm việc ở đây vơi những người già không?

-   Ô không - tôi yêu những người già - đó là lí do v́ sao tôi đảm trách môn lăo khoa.

-   Cô đă ở đây lâu rồi chứ?

-   Một năm rưỡi - cô ta ngừng lại -  nhưng tháng tới tôi sẽ đi.

-   Tại sao?

Lần đầu tiên có một sự kềm chế không chối căi được h́nh thành qua cử chỉ của nữ y tá O’Keefe.

-   Bà biết rồi mà, bà Beresford, người ta cần sự thay đổi.

-   Nhưng cô sẽ làm cùng một việc không?

-   Vâng - cô ta nhặt chiếc khăn lông chồn lên. Một lần nữa tôi cám ơn bà nhiều - và tôi cũng vui mừng nữa, có một cái ǵ để nhớ đến cô Fanshawe - cô ấy là một bà già vĩ đại - ngày nay ông sẽ không t́m ra nhiều người như cô ấy đâu.

v     

v     

 

5.MỘT BÀ GIÀ BIẾN MẤT

 

Vào thời điểm thích hợp những đồ của d́ Ada được gởi đến. Cái bàn giấy đáng yêu đă được lắp đặt .Chiếc bàn gia công truất quyền sở hữu những thứ linh tinh - chúng được bỏ riêng ra trong một góc tối của pḥng tiền sảnh. Bức tranh vẽ ngôi nhà màu hồng nhạt bên con kênh Tuppence treo trên giá trên ḷ sưởi trong pḥng ngủ nơi cô có thể ngắm nh́n nó mỗi buổi sáng khi uống tách trà sáng sớm.

        Từ đó lương tâm cô c̣n làm phiền cô một chút nữa, Tuppence viết một lá thư giải thích bức tranh đă thuộc quyền sở hữu của họ như thế nào nhưng nếu bà Lancaster muốn đ̣i lui, cô sẽ để cho họ biết mà thu gom. Lá thư này cô gởi cho bà Lancaster, nhờ bà Johnson chuyển giúp đến khách sạn Cleveland, đường George, khu vực 1 hướng tây chuyển giúp.

Không có hồi âm, nhưng một tuần sau lá thư bị trả lại với ḍng chữ “không biết địa chỉ người nhận’”ghi trên phong b́.

-   Thật mệt làm sao, Tuppence nói.

-   Có lẽ họ chỉ ở lại một hai đêm. Tommy phỏng đoán.

-   Nhưng em nghĩ họ sẽ để lại một địa chỉ để chuyển thư chứ.

-   Em có ghi” vui ḷng chuyển giúp” không?

-   Có, em có ghi. Em sẽ gọi điện cho họ để hỏi - chắc họ phải để lại một địa chỉ trong sổ đăng kí khách sạn.

-   Anh sẽ vứt bỏ nó đi nếu anh là em. Tại sao cứ quan trọng hoá tất cả chuyện này? Anh hi vọng con mèo già đó quên mọi chyện về bức tranh rồi.

-   Em cũng có ư định thử xem.

Tuppence ngồi xuống chỗ điện thoại và ngay lập tức liên hệ với khách sạn Cleveland.

Vài phút sau cô quay trở lại pḥng làm việc của Tommy.

-   Thật khá ḱ cục, Tommy - họ không từng Ở đó. Không có bà Johnson - không có bà Lancaster - không có pḥng nào đăng kí cho họ cả. Không có bất cứ dấu vết nào chứng tỏ họ đă ở đó cả.

-   Anh nghĩ cô Packard đă lấy cái tên khách sạn sai. Vội vàng ghi lại - rồi quên - và có lẽ đă đánh mất địa chỉ -  hay nhớ lộn. Những việc như thế vẫn thường xảy ra, em biết mà.

-   Tại Sunny Ridge em không hề nghĩ ra chuyện này. Cô Packard luôn là một người có năng lực.

-   Có lẽ họ không đăng kí trước tại khách sạn và khách sạn đầy người, v́ thế họ phải đi kiếm nơi khác. Em biết sự tiện nghi ở London là như thế nào rồi - có phải em định tiếp tục làm rùm beng lên không?

Tuppence rút lui.

Ngay sau đó cô trở lại.

-   Em biết những ǵ em sắp làm. Em sẽ gọi điện cho cô Packard và em sẽ lấy địa chỉ của luật sư

-   Luật sư nào?

-   Anh không nhớ cô có nói đến một hăng những luật sư họ xếp đặt mọi thứ bởi v́ gia đ́nh Johnson đều ở ngoại quốc sao ?

Tommy, người đang bận rộn với bài diễn văn anh đang phác thảo để đọc trong một hiệp hội anh sắp tham dự, th́ thầm - ‘ chính trị đứng đắn nếu một khả năng như thế phải nảy sinh’ -  nói: em đánh vần từ Khả năng như thế nào hả, Tuppence?

 - Em có nghe những ǵ tôi đang nói không?

 - Phải, phải, ư kiến rất hay -  tuyệt vời -  huy hoàng -  anh viết bài đó - 

Tuppence bước ra ngoài -  lại đâm  đầu vào nói:

-   K -  H-  A-  M- A- N- G.

-   Không thể nào - em dùng từ sai.

-   Anh đang viết cái ǵ thế?

-   Bài tham luận anh sắp đọc tại I.U.A.S. và anh muốn em để anh yên.

-   Xin lỗi.

Tuppence rút lui. Tommy tiếp tục viết những hàng chữ rồi gạch bỏ. Khuôn mặt anh sáng bừng lên, như là ng̣i bút đă tăng lên một bước. Một lần nữa cánh cửa bật mở.

-   Nó đây, Tuppence nói. Partingdale, Harris, Lockeridge và Partingdale, dăy phố 32 khu Lincoln, Trung tâm phía Tây. Điện thoại Holborn 051386. Nhân viên điều hành của hăng là ông Eccles. Cô đặt một tờ giấy lên đầu gối Tommy. Bây giờ Chính anh đảm nhận việc này.

-   Không! Tommy cương quyết đáp.

-   Phải! Nhưng bà ta là d́ Ada Của anh.

-   D́ Ada th́ bắt đầu từ đâu? Bà Lancaster không phải là d́ ruột của tôi.

-   Nhưng đó là những Luật sư. Tuppence nài nỉ. Việc của một người đàn ông là tiếp xúc với những luật sư. Họ chỉ nghĩ rằng bọn đàn bà là điên rồi không chịu lưu tâm đến.

-   Một quan điểm rất nhạy cảm đấy nhỉ.

-   Ô, Tommy - hăy Giúp em. Anh đi và điện thoại c̣n em th́ kiếm tự điển và t́m cách đánh vần chữ khả năng.

Tommy nh́n vợ một cái, nhưng cũng bước ra.

Cuối cùng anh trở lại và nói giọng kiên quyết -  công việc này bây giờ khép lại rồi, Tuppence.

-  Anh gặp ông Eccles?

-   Nói một cách nghiêm túc tôi đă gặp một ông Will nào đó không nghi ngờ ǵ ông ta là người được giao công việc buồn chán của hăng Partingford, Lockjaw và Harrison. Nhưng lăo ta dẻo miệng và thông báo đầy đủ. Tất cả thư từ và trao đổi thông tin theo đường Ngân hàng Các Quận phía Bắc, chi nhánh Hammersmith, họ sẽ chuyển giúp. Và đây, Tuppence, hăy để tôi nói với em, dấu vết chấm dứt rồi. Ngân hàng sẽ chuyển tất cả các hiện vật - nhưng họ sẽ không để lại bất cứ địa chỉ nào cho em hay bất cứ ai hỏi cả. Họ có những quy định bí mật và họ sẽ kiên tŕ đến cùng. Môi họ được dán chặt như vị Thủ tướng tự đại của chúng ta.

-   Được rồi. Em sẽ gởi một lá thư nhờ ngân hàng chuyển vậy.

-   Hăy làm đi - và ơn Chúa, Để Tôi Một Ḿnh - hay tôi sẽ không bao giờ viết xong bài diễn văn.

-   Cám ơn, anh yêu. Em không biết sẽ làm ǵ khi không có anh. Cô hôn vào đầu anh.

-   Đó là loại bơ ngon  nhất đấy. Tommy nói.

 

                                             2

 

Không đến tối thứ sáu tiếp theo Tommy bất ngờ hỏi: Nhân tiện nói luôn, em có nhận được hồi âm từ lá thư em nhờ ngân hàng chuyển?

-   Thật tử tế anh đă hỏi. Tuppence mỉa mai đáp. Không, em không nhận được. Cô nói thêm với giọng đầy suy tưởng. Tôi nghĩ chắc không nhận được.

-   Tại sao không?

-   Anh có thật lưu ư đâu. Tuppence lạnh lẽo đáp.

-   Nh́n đây, Tuppence - Tôi biết tôi khá bận - tất cả tại cái I.U.A.S. này - Ơn Chúa, mỗi năm chỉ có một lần.

-   Khởi đầu vào ngày thứ năm, phải không? Trong năm ngày.

-   Bốn ngày.

-   Và các anh đi xuống một chỗ chỉ có vài người biết, một ngôi nhà cực ḱ bí mật tại nơi nào đó ở miền quê, làm những bài diễn văn, đọc những bản tham luận và những người đàn ông đại diện cho Lực lượng Giám sát Bí mật tại châu Âu và xa hơn. Em quên I.U.A.S. bênh vực cho cái ǵ. Ngày nay họ có những cái thuộc về thuở ban đầu -  

-   Liên Bang Hiệp Hội Bảo Vệ Quốc tế.

-   Thật khó đọc! Hoàn toàn ḱ dị. Em mong toàn thể chỗ đó bị đặt máy ghi âm, mọi người đều biết rơ những cụôc đối thoại bí mật nhất của kẻ khác.

-   Có khả năng xảy ra rất cao. Tommy nói với một nụ cười.

-   Em giả thiết anh lấy làm thú vị?

-   Trong một chừng mức nào đó th́ có. Người ta gặp gỡ nhiều bạn cũ.

-   Bây giờ tất cả đều khá lẩn thẩn rồi, em nghĩ thế. Có ai làm chuyện ǵ tốt không?

-   Chúa ơi, thật là một câu hỏi khéo! Phải chăng người ta có thể tự tin rằng em có thể trả lời câu hỏi đó bằng một tiếng Có và Không giản dị -  

-   Vậy th́ có bất ḱ ai trong số họ tốt chứ?

-   Anh sẽ đáp Có. Một số người thật sự rất tốt.

-   Ông già Jose có đến đó không?

-   Vâng, ông ấy sẽ đến.

-   Trông ông ta dạo này thế nào anh?

-   Điếc đặc, gần như mù, bại liệt v́ chứng thấp khớp -  và em sẽ ngạc nhiên v́ những cái ấy Không đánh gục được ông ta.

-   Em hiểu rồi. Cô suy nghĩ. Em ước chi ḿnh được đến đó.

Tommy có vẻ xin lỗi.

-   Anh nghĩ em nên kiếm việc chi làm trong khi anh đi xa.

-   Em có thể. Tuppence đáp với vẻ trầm tư.

Chồng cô nh́n cô với sự hiểu biết mơ hồ mà Tuppence luôn đánh thức trong ông.

-   Tuppence - em định làm ǵ?

-   Không có ǵ cả, tuy nhiên - em chỉ đang nghĩ đến mức ấy.

-   Về cái ǵ?

-   Sunny Ridge. Và một bà già ngồi nhấp từng ngụm sữa và nói chuyện có vẻ lang bang về những đứa trẻ chết và những cái ḷ sưởi. Nó hấp dẫn em. Em nghĩ chuyến tới chúng ta đến thăm d́ Ada em sẽ cố gắng t́m hiểu hơn về bà - nhưng không có lần tới bởi v́ d́ Ada đă chết - và lần tới khi chúng ta ở Sunny Ridge - bà Lancaster đă - đă biến mất!

-   Em muốn nói người của bà đă mang bà đi xa? Đó không phải là sự biến mất - điều này khá tự nhiên.

-   Đó là một sự biến mất - không dấu vết địa chỉ - không phúc thư - đó là một mât tích có dự mưu. Càng ngày em càng tin chắc về điều đó.

-   Nhưng -  

-   Nghe đây, Tommy - giả sử một lúc này hay lúc khác một tội ác đă xảy ra - dường như tất cả được bao bọc an toàn - nhưng rồi giả sử một ai đó trong gia đ́nh đă thấy một cái ǵ đó, hay biết một chuyện ǵ đó - một người nào đó có tuổi và ba hoa - một người nào đó hay nói chuyện phiếm với kẻ khác - một kẻ nào đó bất ngờ bạn nhận ra có thể gây nguy hiểm cho bạn - anh sẽ làm ǵ về chuyện này?

-   Arsenic trong súp? Tommy gợi ư một cách vui vẻ. Đánh họ vào đầu - đẩy họ xuống cầu thang.

-   Cái ầy khá cực đoan. Những cái chết bất ngờ lôi cuốn sự chú ư. Nên tính toán một số cách làm đơn giản hơn. Một viện dưỡng lăo đẹp đáng kính trọng dành cho những quư bà có tuổi. Anh thăm viếng, tự xưng ḿnh là bà Johnson hay bà Robinson - hay anh t́m một kẻ nào đó ở phía thứ ba không ai nghi ngờ để tạo ra những xếp đặt - thông qua một hăng cố vấn pháp luật đáng tin cậy anh quyết định những sắp xếp thuộc phạm vi tài chính. Có lẽ anh đă được ám chỉ rồi, người bà con có những liên tưởng và đôi khi những aỏ giác nhẹ nhàng - khá nhiều bà già khác cũng như vậy - Không ai nghĩ là chuỵên khác thường - nếu bà ta tán gẫu về chuyện sữa bị nhiễm độc, những đứa trẻ chết sau ḷ sưởi hay một vụ bắt cóc độc ác; không ai thật sự lắng nghe. Họ chỉ nghĩ đó là bà A hay bà B có những liên tướng đấy thôi - không người nào Chú ư hết.

-   Ngoại trừ bà Thomas Beresford.

-   Được rồi, Phải, em Đă chú ư.

-   Nhưng tại sao?

-   Em không hoàn toàn biết rơ. Tuppence chậm răi đáp. Nó giống như những câu chuyện thần tiên. Bằng Cách Cắn Vào Những Ngón tay Tôi - Điều Độc ác Theo Đường Này Đến. Th́nh ĺnh em cảm thấy sợ hăi. Em luôn nghĩ đến Sunny Riđge như một nơi chốn an b́nh hạnh phúc - rồi đột nhiên em cảm thấy ngạc nhiên... Đó chỉ là cách duy nhất em có thế nói. Em muốn t́m hiểu rơ hơn. Bây giờ bà già khốn khổ Lancaster đă biến mất. Một ai đó đă lẹ làng bí mật đem bà ta đi.

-   Nhưng tại sao họ làm thế chứ?

-   Em chỉ có thể nghĩ vậy bởi v́ ngày bà ta càng tệ hơn - xấu hơn xét trên quan điểm của họ -  nhớ lại nhiều hơn, có lẽ thế, nói chuyện với người khác nhiều hơn, hay có lẽ đă nhận ra một ai đó - hay một kẻ nào đó nhận ra bà ấy - hay đă kể cho bà nghe một điều ǵ đấy làm cho bà nảy ra một ư kiến mới về một chuyện đă xảy ra. Dù sao, v́ lí do này hay lí do kia bà ta đă trở nên nguy hiểm đối với kẻ khác.

-   Nh́n đây, Tuppence, toàn thể sự việc này là tất cả những sự việc và những người nào đó. Đó chỉ là một ư tưởng do em nghĩ ra mà thôi. Không cần thiết em phải theo đuổi những chuyện không phải là việc của em rôi làm ḿnh bị khủng hoảng tinh thần nhé.

-   Không có chi là khủng hoảng tinh thần theo lời anh cả, Tuppence đáp. Vậy anh không cần lo chi hết.

-   Em hăy để Sunny Ridge yên.

-   Em đâu nói ḿnh sẽ trở lại Sunny Ridge. Em nghĩ họ đă kể  cho em nghe tất cả những ǵ họ biết ở đó rồi. Em cho rằng nếu ở lại bà ấy hoàn toàn được an toàn. Em muốn khám phá nơi bà ấy ở Bây giờ. Em muốn đến bất cứ nơi nào bà ta ở Đúng thời trước khi một chuyện ǵ đó xảy đến cho bà.

-   Làm sao mà em lại nghĩ có chuyện ǵ xảy đến cho bà chứ?

-   Em không thích suy nghĩ. Nhưng em đang theo dấu đây. Em sẽ lại là Pruden Beresford, Thám tử tư. Anh có nhớ khi ḿnh là đôi Thám tử Blunt rực sáng không?

-   Có, Tommy đáp. Em là cô Robinson, thư kí riêng của anh.

-   Không phải lúc nào cũng thế, dù sao, đó là những ǵ em sắp sửa làm trong khi anh đang diễn kịch tại Hoạt Động Gián Điệp Quốc Tế ở một chỗ ít người biết Manor. Đó là v́” Bảo vệ bà Lancaster” mà em sắp bận rộn đấy thôi.

-   Có thể em sẽ t́m ra bà ta được ổn định hoàn toàn chứ sao.

-   Em hi vọng thế. Không ai sẽ vui hơn em đâu.

-   Em định bắt đầu như thế nào?

-   Như em đă nói với anh, em mới bắt đầu nghĩ ra. Có lẽ một thông báo nào đó? Không, đó sẽ là một sai lầm.

-   Vậy, hăy cẩn thận. Tommy nói, hơi bất lực.

Tuppence thậm chí không đáp lại.

                                                

3

 

Sáng thứ hai, Albert, người giúp việc chính của gia đ́nh Beresford trong nhiều năm, từ khi anh ta c̣n là một gă giữ thang máy tóc màu cà rốt được họ thuyết phục tham gia vào những hoạt động chống bọn tội phạm tăng thêm niềm vui cho họ, đặt khay trà buổi sáng trên chiếc bàn giữa hai giường, kéo các màn cửa, loan báo đó là một ngày đẹp trời, rồi dời cái vẻ ngoài bệ vệ của anh ra khỏi pḥng.

Tuppence ngáp, ngồi dậy, dụi mắt, rót một tách trà , cho một lát chanh mỏng vào, lưu ư rằng đó một ngày đẹp trời, mà bạn không bao giờ biết..

Tommy trở ḿnh rên rỉ.

-   Dậy, Tuppence nói. Hăy nhớ hôm nay anh sắp đi nhiều chỗ.

-   Chúa ơi. Tommy nói. Tôi nhớ rồi.

Anh ngồi dậy và  cũng tự ḿnh rót một tách trà. Anh nh́n bức tranh trên giá với vẻ thưởng thức.

-   Tôi dám nói, Tuppence, bức tranh của em rất đẹp.

-   Đó là hướng mặt trời đi vào phía bên cửa sổ và thắp sáng ngôi nhà.

-   Thanh b́nh thật.

-   Nếu em có thể nhớ lại trước kia em đă nh́n thấy nó ở đâu. 

-   Anh không hiểu điều ấy lại quan trọng như vậy. Em sẽ nhớ lại lúc này hay lúc khác thôi.

-   Cái ấy không tốt. Em muốn nhớ lại bây giờ.

-   Nhưng tại sao?

-   Anh không hiểu à? Đó là đầu mối duy nhất mà em có. Đó là bức tranh của bà Lancaster -  

-   Nhưng dù sao hai việc cũng không liên can tới nhau. Tommy nói. Anh muốn nói, sự thật có một lần bức tranh đă thuộc về bà Lancaster. Nhưng có thể đó chỉ là bức tranh bà ấy mua tại một cuộc triển lăm hay một ai đó trong gia đ́nh bà ấy mua. Có thể là một bức tranh ai đó tặng bà như một món quà. Bà mang theo ḿnh đến Sunny Ridge bởi v́ bà nghĩ nó đẹp. Không có lí do ǵ bức tranh lại liên quan đến tư cách cá nhân bà ấy.

-   Đó là đầu mối duy nhất em có.

-   Đó là một ngôi nhà đẹp thanh b́nh.

-   Cũng vậy thôi, em nghĩ đó là một ngôi nhà trống.

-   Em nói sao, một ngôi nhà trống?

-   Em không nghĩ có ai sống ở đó. Em không nghĩ có ai sẽ ló ra khỏi căn nhà đó. Không ai sẽ t́nh cờ đi bộ ngang cầu, không ai nới giây buộc thuyền và chèo đi xa.

-   Lạy chúa tôi, Tommy nh́n cô chằm chằm. Có chuyện ǵ với em thế?

-   Lần đầu tiên nh́n thấy nó em đă nghĩ vậy. Em nghĩ” thật là một ngôi nhà đẹp để ở.” Và rồi em nghĩ” Nhưng không ai sống đây cả, em chắc họ không ở.” Điều này cho anh thấy rằng em đă nh́n thấy nó trứơc đây. Đợi một phút. Đợi một phút...  nó đang đến. Nó sẽ đến.

   Tommy nh́n cô chằm chằm.

-   Ngoài một Cửa sổ, Tuppence nói hụt hơi. Ngoài cửa một chiếc xe hơi? Không, không, đó sẽ là góc sai lầm. Chạy dọc theo con kênh... và một chiếc cầu nhỏ với một ṿm cung và những bức tường màu hồng của ngôi nhà, hai cây dương, hơn hai cây. Có Nhiều cây dương liễu. Ồ anh thân yêu, nếu em có thể - 

-   Ồ, thôi thoát ra đi, Tuppence.

-   Nó sẽ trở lại với em ngay.

-   Chúa ḷng lành, Tommy nh́n đồng hồ tay. Anh phải vội.  Em và bức tranh Đă Thấy rồi của em.

Anh nhảy ra khỏi giường chạy vội đến pḥng tắm. Tuppence dựa lưng vào gối khép mắt lại, cố gắng cưỡng bách sự hồi nhớ chỉ tồn tại một cách khó nắm bắt ngoài tầm với.

Tommy rót tách trà thứ hai trong pḥng ăn th́ Tuppence hiện ra đỏ mặt với chiến thắng.

-   Em nhớ lại rồi. Em biết nơi em nh́n thấy ngôi nhà. Nó ở ngoài cửa sổ một đoàn tàu.

-   Khi nào? Ở đâu?

-   Em không biết. Em phải nghĩ đă. Em nhớ đă tự nhủ:“ một ngày nào đó ta sẽ trở lại căn nhà đó” - và em cố gắng nh́n xem tên từng nhà ga tiếp đó là ǵ. Nhưng anh biết ngày nay đường rầy xe lửa như thế nào rồi. Họ phá đổ phân nửa nhà ga -  c̣n nhà ga kế tiếp mà chúng ta đi qua th́ bị giật đổ hoàn toàn, cỏ mọc lấn sân ga, không c̣n bảng hiệu hay cái ǵ khác.

-   Cái cặp đựng tài liệu của tôi đâu rồi, Albert!

Một cuộc t́m kiếm cuồng nhiệt xảy ra.

Gần đứt hơi Tommy trở lại để nói lời tạm biệt. Tuppence đang ngồi suy niệm trước một dĩa trứng chiên.

-   Chào em, Tommy nói. Và v́ Chúa, Tuppence, đừng có mà chơ mũi vào những việc không phải việc của em.

-   Em nghĩ, Tuppence nói, trầm tư mặc tưởng. Những ǵ em thật sự làm, là một cuộc hành tŕnh vài ngày bằng xe lửa.

Tommy có vẻ nhẹ nhơm.

-   Phải đấy. Anh nói giọng khích lệ, em thử đi xem sao. Mua một cái vé định ḱ. Có một số sơ đồ nơi em có thể du lịch qua một ngàn dặm trên khắp các quần đảo Anh quốc với một số tiền phải chăng. Cuộc đi này rất thuận tiện cho em. , Tuppence. Du hành bằng xe lửa em có thể nghĩ ra tất cả những phần có khả năng xảy ra. Chuyện đó ắt phải khiến em hạnh phúc cho đến khi anh trở về nhà.

-   Chuyển t́nh yêu của em đến Josh nhé.

-   Anh sẽ chuyển. Anh nói thêm, nh́n vợ trong một cử chỉ lo âu, anh ước em đi với anh. Đừng làm việc ǵ ngu ngốc nghe?

-   Dĩ nhiên không. Tuppence đáp.

 

6. TUPPENCE THEO DẤU

 

 “ Anh yêu, Tuppence thở dài, anh yêu ”. Cô nh́n quanh với đôi mắt buồn rầu. Cô tự nói với ḿnh, chưa bao giờ cô cảm thấy khốn khổ như thế. Tất nhiên cô biết cô sẽ nhớ Tommy, nhưng cô không có ư kiến ḿnh sẽ nhớ Tommy bao nhiêu.

Trong suốt cuộc hôn nhân lâu dài của họ khó mà có cuộc chia tay nào lâu. Khởi sự trước ngày cưới, họ tự gọi họ là một “đôi phiêu lưu trẻ.” Họ đă cùng nhau trải qua những khó khăn nguy hiểm, họ đă lấy nhau, đă có hai con đúng vào lúc thế giới dường như buồn tẻ hơn và tuổi trung niên đến với họ, thế chiến thứ hai xảy ra và trong mức độ gần như phép lạ một lần nữa họ lại thoát hiểm trong những vùng phụ cận của Cơ quan T́nh báo Anh Quốc. Một đôi hơi khác đời, họ được một người tự xưng là ông ‘Carter’, một người đàn ông trầm tĩnh, không có đặc tính rơ rệt, tuyển mộ, nhưng đối với lời nói của người này mọi người đều khuất phục. Họ có những cuộc phiêu lưu, và một lần nữa lại có nhau. Nhân tiện nói luôn, việc này không được ông Carter dự tính. Tommy một ḿnh đă được tuyển mộ. Nhưng Tuppence, phô diễn tất cả tính ngây thơ tự nhiên, trong một phong cách như vậy đă t́m cách nghe trộm khi Tommy đến một nhà khách trên bờ biển trong vai một ông Meadows nào đó, người đầu tiên anh thấy ở đó là một quư cô trung niên đang ngồi đan áo, cô ta ngước nh́n anh với đôi mắt ngây thơ và anh bắt buộc chào cô ta như là bà Blenkinsop. V́ vậy họ đă cùng nhau hoạt động như một đôi.

“Tuy nhiên, Tuppence nghĩ, lần này ḿnh không thể làm như thế được. Không có tổng số những chuyện nghe trộm, tính ngây thơ, hay bất cứ cái ǵ khác sẽ đem cô đến những ngơ ngách  của một chỗ ít người biết Manor hay chia cắt những chi tiết rối rắm của L.B.H.H.B.V.Q.T. Chỉ là một hội những ông già, cô suy nghĩ một cách bực bội. Thiếu Tommy căn hộ trở nên trống vắng, thế giới đơn độc, và ‘làm thế nào mà,’ Tuppence nghĩ,’ ta lại tự ḿnh thu xếp được?’

Đối với Tuppence đă khởi sự những bước đầu tiên trên những ǵ cô dự định thu  xếp được th́ vấn đề thật sự thuần tuư vô nghĩa. Lần này không có vấn đề của hoạt động trí tuệ, hoạt động phản gián hay cái ǵ đó đại loại. Không có ǵ thuộc bản chất chuyên nghiệp cả. “ Prudence Beresford, hăng Thám tử tư, đó là những ǵ ta là.” Tuppence tự nhủ ḿnh.

Sau một bữa ăn trưa tồi đă được vội vă dọn sạch, chiếc bàn nhỏ trong pḥng ăn được rải lên những bảng giờ tàu đi đến, những sách hướng dẫn, những bản đồ, một vài cuốn nhật kí cũ mà Tuppence t́m cách khai quật lên được.

Trong khoảng thời gian ba năm sau này, một lúc nào đó( cô chắc không lâu lắm) cô đă dự một cuộc hành tŕnh bằng xe lửa, nh́n qua cửa sổ toa tàu, đă để ư một ngôi nhà. Nhưng, cuộc hành tŕnh bằng tuyến đường sắt nào?

Như đa số cư dân thời hiện đại, gia đ́nh Beresford chủ yếu du lịch bằng xe hơi. Những chuyến du lịch bằng đường sắt họ ít khi dùng. Scotland, tất nhiên, khi họ đến ở lại với Deborah đứa con gái đă có chồng - Nhưng đó là một cuộc hành tŕnh ban đêm.

Penzane - những ngày nghỉ hè - Tuppence biết khu vực đó bằng cả trái tim.

Không, đây là một cuộc hành tŕnh ngẫu nhiên nhiều hơn.

Với tánh siêng năng và kiên tŕ, Tuppence đă làm một bảng danh sách tỉ mỉ tất cả những cuộc hành tŕnh có thể cô đă đi có lẽ thích hợp với những ǵ cô t́m kiếm. Một hay hai lần tham gia những cuộc đua lớn, một cuộc viếng thăm Northumberland, hai chỗ có thể tại xứ Wales, một bữa đặt tên thánh, hai đám cưới, họ có tham gia một cuộc bán giảm giá, có lần cô phát cho người bạn một số chó con, anh cho chúng ăn và bị mắc phải bịnh cúm. Nơi gặp gỡ là một xứ ít mưa chỗ các đường bộ giao nhau mà cô không nhớ tên.

Tuppence thở dài. Có vẻ như kết luận của Tommy là một kết luận mà cô phải nhận. Mua một cái vé đi một ṿng và thực tế đi du lịch trên hầu hết những nhánh thuộc khu vực đường rầy xe lửa.

Trong một cuốn sổ tay nhỏ cô đă viết nhanh những đoạn ngắn bất cứ kí ức nào chộp được -  những tia lửa mơ hồ -  trong trường hợp chúng có thể trợ giúp.

Ví dụ, một cái mũ -  phải, một chiếc mũ cô đă ném trên một cái giá để đồ. Cô đang đội một chiếc mũ - một đám cưới hay lễ đặt tên thánh - chắc chắn không phải là những con chó con.

Và - tia lửa khác - đá văng đôi giày của cô - bởi v́ chân cô bị đau. Phải - điều đó được xác định - cô đă thật sự nh́n thấy Ngôi nhà - và v́ bị  đau chân cô đă đá văng đôi giày.

Vậy, nó đă xác định đó là một nhiệm vụ xă hội mà cô hoặc là đi đến, hay trở về từ -  trở về từ, dĩ nhiên rồi -  bởi v́ đôi chân đau nhức do việc đứng lâu trong đôi giày đẹp nhất của cô. Và loại mũ nào? Bởi v́ điều đó sẽ trợ giúp - một cái mũ hoa - một đám cưới mùa hè - hay một chiếc mũ nhung mùa đông?

Tuppence đang bận ghi nhanh những chi tiết tứ Bảng chỉ Giờ đi đến của tuyến Đường sắt ở những khu vực khác nhau th́ Albert bước vào hỏi cô cần ǵ trong bữa ăn tối - những món cô cần đặt từ cửa hàng thịt và cửa hàng thực phẩm.

-  Tôi nghĩ tôi sẽ đi xa trong vài ngày nữa. Tuppence nói. Chú không cần đặt món chi cả. Tôi sẽ đi bằng xe lửa.

-  Cô có cần một ít bánh nhân thịt?

-  Có thể. Kiếm ít thịt băm hay món chi đó.

-  Có thể thêm trứng và bơ. Hay là có một hộp patê trong tủ đựng thức ăn - cái hộp đă nằm đó một thời gian lâu, quá thời hạn. Đó là một tiến cử khá mỉa mai nhưng Tuppence cũng đáp. ‘ được rồi, thế là đủ.’

-  Có cần thư nhờ chuyển?

-  Tôi thậm chí không biết ḿnh đi đâu nữa.

-  Tôi hiểu. Albert đáp.

Việc dễ chịu về Albert là anh ta luôn chấp nhận mọi sự. Không có ǵ phải giải thích với anh cả.

Anh đi ra và Tuppence giải quyết chương tŕnh của ḿnh - những ǵ cô cần là: một cuộc đính hôn có dính líu đến đôi giày dự tiệc và chiếc mũ. Không may mục thứ nhất cô lên danh sách vướng vào những khu vực đường sắt khác nhau. Một đám cưới ở tuyến đường sắt phía Nam, mục kia ở nam Bedford.

Nếu cô có thể nhớ lại một chút về khung cảnh... Cô đang ngồi phía tay phải của xe lửa. Cô đă nh́n thấy cái ǵ Trước con kênh? - Rừng? Cây? Cánh đồng? Một ngôi làng xa?

Căng óc ra, cô cau mày nh́n lên - Albert đă trở lại. Vào giây phút đó cô c̣n xa mới hiểu Albert đang đứng đợi để lưu ư không nhiều hơn hoặc không ít hơn một câu trả lời lời cầu xin.

-  Lại cái ǵ nữa, Albert?

-  Nếu ngày mai cô sẽ đi xa cả ngày - 

-  Và cả hôm sau cũng thế.

-  Vậy tôi nghỉ làm có ổn không?

-  Phải, tất nhiên.

-   Ây là Elizabeth - nó đă ló ra những chấm rơ ràng. Milly nghĩ nó bị sởi -  

Milly là vợ của Albert và Elizabeth là đứa con nhỏ tuổi nhất của họ.

-   Anh bạn, Milly cần anh ở nhà, dĩ nhiên rồi.

Albert sống trong một ngôi nhà nhỏ xinh xắn cách đó một hai con đường.

-   Chấm đỏ chưa nhiều- cô muốn tôi đi khuất mắt khi cô bận túi bụi - cô ấy không thích tôi xáo tung mọi thứ lên - nhưng đó là những đứa con trai khác kia -  tôi có thể mang chúng đi khuất mắt cô ấy tới nơi nào đó.

-   Dĩ nhiên rồi. Tất cả gia đ́nh đều phải cách li kiểm dịch.

-   Vâng, đó là cách tốt nhất, và khỏi bệnh. Charlie bị lên sởi, Jean cũng thế. Dù sao, điều đó có ổn không?

Tuppence bảo đảm với anh ta tất cả sẽ ổn.

Một cái ǵ đó đang lay động dưới đáy sâu tiềm thức - một dự đoán hạnh phúc - một sự thừa nhận -  chứng bịnh sởi - phải, tất nhiên rồi. Một cái ǵ đó có liên quan đến bịnh sởi.

Nhưng tại sao ngôi nhà bên con kênh lại liên can đến bịnh sởi...?

Dĩ nhiên! Anthea. Anthea là đứa con gái đỡ đầu của Tuppence - và Jane con gái của Anthea đang ở trường - học ḱ đầu - và đó là ngày Lễ phát thưởng và Anthea đă gọi điện - hai đứa nhỏ hơn đă ló ra những chấm đỏ của chứng sới và cô không có ai trong nhà để giúp c̣n Jane th́ sẽ thất vọng nếu không có ai đến - Tuppence có thể đến không?

Tuppence đáp tất nhiên cô sẽ đến - cô đang không có việc ǵ đặc biệt để làm - cô sẽ xuống trường đem Jane ra ngoài ăn trưa rồi trở về các hoạt động thể thao và tất cả những ǵ c̣n lại. Có một chuyến tàu đặc biệt dành cho trường học.

Mọi việc trở về trong trí nhớ cô với trạng thái rơ ràng đáng kinh ngạc Một tờ báo mùa hè có in hinh những bông lúa!

Cô đă nh́n thấy căn nhà trên cuộc hành tŕnh trở về.

Trên đường xuống đó cô bị hút vào một tờ tạp chí cô mang theo, nhưng lúc trở về không có ǵ để đọc, cô nh́n ra ngoài cửa sổ cho đến khi, bị kiệt sức v́ những hoạt động ban ngày và áp lực của đôi giày cô ngủ thiếp đi.

Khi thức dậy đoàn tàu đang chạy bên một con kênh. Đó là một xứ sở từng phần là rừng, thỉnh thoảng một nhịp cầu, đôi khi một đường ṃn uốn khúc hay một con đường lớn - xa xa một cánh đồng -  không có làng mạc.

Đoàn tàu bắt đầu chạy chậm lại, không có lí do ǵ sẽ chạy chậm, trừ một dấu hiệu ngược lại. Nó giật lùi rồi dừng lại bên một chiếc cầu, một chiếc cầu có một mái ṿm cung bắt qua con kênh, một con kênh không dùng đến nữa, có thể đoán chừng như vậy. Phía bên bờ kênh, gần gịng nước, là một ngôi nhà. Một ngôi nhà mà Tuppence nghĩ ngay là một trong những ngôi nhà đẹp cô chưa từng thấy. Một ngôi nhà yên tĩnh, thanh b́nh, sáng bừng lên bởi ánh sáng vàng rực của mặt trời buổi chiều muộn.

Không có người nào được nh́n thấy. Không có chó hay động vật nuôi. Tuy thế những cánh cửa lá sách màu lục chưa đóng chặt. Căn nhà hẳn có người ở, nhưng bấy giờ, vào lúc đó, ngôi nhà trống vắng.

‘ Ta phải t́m hiểu ngôi nhà đó. Tuppence nghĩ. Một ngày nào đó ta phải trở lại và nh́n ngắm nó. Đó là loại nhà ta thích ở.’

Với cái giật nảy đoàn tàu lắc lư tiến về phía trước.

-   Ḿnh sẽ t́m xem tên của nhà ga tiếp đó - để ḿnh biết ngôi nhà hiện ở đâu.

 Nhưng không có nhà ga nào phù hợp. Đó là thời điểm khi mọi việc bắt đầu xảy đến với xe lửa. Những nhà ga nhỏ bị đóng cửa, thậm chí bị kéo đổ, cỏ lấn làm cho những sân ga mục nát. Trong hai mươi phút - nửa giờ - đoàn tàu vẫn chạy, nhưng không có ǵ được nh́n thấy có thể xác minh được. Phía trên những cánh đồng, có một lần Tuppence thấy chóp nhọn của nhà thờ.

Đoạn tiếp đến một số nhà máy phức tạp. Những ống khói cao - một khu vực gồm những ngôi nhà tiền chế, rồi đồng quê rộng thoáng một lần nữa.

Tuppence nghĩ thầm - ngôi nhà trông hơi giống như trong một giấc mơ! Có lẽ đó là một giấc mơ -  ta không nghĩ ta từng đi và t́m kiếm nó -  Quá khó khăn. Vả lại, đáng tiếc thay, có lẽ - 

Một ngày nào đó, có thể, ta t́nh cờ đến đó do một tai nạn!

V́ thế, cô quên tất cả về ngôi nhà, cho đến khi  bức tranh treo trên tường đánh thức dậy một kí ức ngủ quên.

Và bây giờ, cám ơn một lời thốt ra vô t́nh từ miệng Albert, cuộc t́m kiếm đă chấm dứt.

Hay nói đúng hơn, cuộc t́m kiếm sẽ bắt đầu.

Tuppence lựa ra ba bản đồ, một cuốn sách hướng dẫn, và nhiều món phụ tùng khác.

Bây giờ cô biết khu vực ḿnh phải t́m kiếm c̣n sơ sài. Trường Jane cô đánh dấu thập lớn - Một nhánh của khu vực đường sắt chạy thẳng vào đường lớn đi London - Thời gian hết hiệu lực khi cô ngủ.

Khu vực cuối cùng như dự tính gồm một quăng đường đáng chú ư - hướng bắc Mechester, đông bắc chợ Basing là một thành phố nhỏ, nhưng hoàn toàn là một nơi quan trọng chỗ các đường sắt giao nhau, có thể là hướng tây Shaleborough.

Cô sẽ dùng xe, và khởi hành vào sáng sớm hôm sau.

Cô đứng lên đi vào pḥng ngủ quan sát bức tranh treo trên giá .

Phải, không c̣n nhầm lần ǵ nữa. Đó là căn nhà cô đă nh́n thấy từ chuyến tàu ba năm trước. Căn nhà cô đă hứa sẽ t́m lại một ngày nào đó.

Ngày nào đó đă đến. Ngày nào đó là ngày mai.

 

                                

 

 

NGÔI NHÀ BÊN CON KÊNH

                            

7. MỤ PHÙ THỦY THÂN THIỆN

Trước khi rời khỏi nhà sáng hôm sau, Tuppence cẩn thận nh́n một lần cuối cùng bức tranh treo trong pḥng cô, không gắn quá nhiều chi tiết bảo đảm của bức tranh vào trong trí, mà chỉ ghi nhớ vị trí trong phong cảnh của nó. Lần này cô sẽ nh́n nó không phải từ cửa sổ một đoàn tàu mà từ con đường cái. Góc cận cảnh sẽ hoàn toàn khác. Ở đó có thể có nhiều cầu một ṿm mái cong, nhiều kênh giống nhau không c̣n dùng nữa. Có lẽ những căn nhà trông giống ngôi nhà này ( nhưng Tuppence từ chối tin vào điều đó).

Bức tranh được kí tên, nhưng chữ kí của nghệ sĩ th́ không đọc được. Có thể nói tất cả bắt đầu với chữ B.

Rời bức tranh quay đi, Tuppence kiểm tra lại đồ dùng cá nhân của ḿnh: một bản đồ A. B. C. và hệ thống đường xe lửa liên hệ. Một trong những bản đồ quân vụ được tuyển chọn; những cái tên thăm ḍ từng khu vực - Medchester, Westleigh - chợ Basing-  Middlesham - Inchwell. Chúng bao quanh khu tam giác ở giữa mà cô quyết định do thám. Với cô cô đem theo một cái túi ngủ nhỏ qua đêm từ khi cô sẽ có ba giờ lái xe trước khi đến khu vực điều tra, và sau đó, nghĩa là, cô kết luận, nhiều cuộc lái xe chậm dọc theo những con đường lộ và đường ṃn trong xứ để t́m kiếm những con kênh có thể đúng.

Sau khi dừng xe lại Medchester uống cà phê và một bữa ăn nhẹ, cô tiếp tục lái về phía trước bên một con đường lộ loại hai nằm sát cạnh một đường rầy xe lửa, băng qua miền thôn dă trồng rừng với nhiều con suối.

Như hầu hết các miền quê ở nước Anh, đầy rẫy những bảng chỉ đường, mang những cái tên Tuppence chưa hề nghe, bề ngoài có vẻ khó mà dẫn đến cái nơi đang được đề cập đến. Thật vậy về phần này h́nh như có sự tinh xảo nào đó trong hệ thống đường bộ của nước Anh. Đường lộ quanh co tách rời khỏi con kênh, và khi bạn đầy hi vọng đi nhanh về phía nơi bạn nghĩ chắc là con kênh, bạn chỉ vẽ một khoảng trắng. Nếu bạn đi theo hướng khu vực trung tâm và vùng phụ cận Michedlen, bảng chỉ đường kế tiếp nơi bạn đến bắt bạn chọn lựa giữa hai con đường, một đến Pennington Sparrow, ngả kia đến Farlingford. Bạn chọn Farlingford trên thực tế t́m cách bắt đầu đến một chỗ như thế nhưng hầu như ngay lập tức bảng chỉ đường kế tiếp lại gởi bạn trở về Medchester, v́ thế gần như bạn thụt lùi bước chân bạn. Trong thực tế Tuppence không bao giờ t́m ra khu vực phụ cận và trung tâm Michelden, trong một lúc lâu cô hoàn toàn không có khả năng t́m ra con kênh thất lạc. Nếu cô có bất cứ ư tưởng nào về ngôi làng mà cô đang t́m, những sự việc có thể dễ dàng hơn. Theo dấu những con kênh trên bản đồ chỉ là chơi tṛ xếp h́nh. Thỉnh thoảng cô đến chỗ đường rầy xe lửa điều ấy khiến cô vui lên rồi tiếp tục ḷng đầy hi vọng lái nhanh về phía Đồi ong, Nam Winterton và Farrell St. Edmund. Farrell St. Edmund đă một lần có nhà ga, nhưng cách đây một thời gian nó đă bị băi bỏ! Tuppence nghĩ, nếu chỉ có một con đường lộ vận hành sát con kênh , hay sát ven đường sắt, sẽ khiến việc t́m kiếm trở nên dễ dàng.

Ngày tiếp tục trôi qua lặng lẽ và Tuppence càng lùc càng rối trí. Thỉnh thoảng cô lái đến một nông trại kề sát bên một con kênh nhưng con đường dẫn đến nông trại cứ nhất mực không liên can ǵ đến con kênh mà chạy thẳng lên một ngọn đồi đến một chỗ tên là Westpenfold có một nhà thờ với một tháp vuông chẳng ích lợi ǵ cả.

Từ đó trong lúc phiền muộn đuổi theo một con lộ có dấu lún bánh xe dường như là con đường duy nhất ra khỏi Westpenfold trong ư thức về phương hướng của Tuppence( bây giờ cái ư thức đó càng lúc càng không thể tin cậy được nữa) dường như dẫn về hướng ngược lại cái hướng cô muốn đi, bất ngờ cô đến một chỗ nơi hai con đường chia nhánh phải và trái. Phía giữa c̣n một tấm bảng chỉ đường, hai cánh tay của cái bảng găy rời.

-         Đường nào? Tuppence hỏi. Ai biết? Ta không biết.

Cô rẽ vào con đường bên trái.

Con đường quanh co, uốn khúc sang trái rồi sang phải. Cuối cùng nó ṿng ngắn quanh một khúc quẹo, con đường mở rộng ra leo lên một ngọn đồi, ló ra khỏi những cánh rừng rồi xuôi lần xuống vùng thôn dă thoáng mát. Đă vượt lên  được đỉnh dốc rồi nó lại đi xuống con dốc. Từ nơi không xa lắm một âm thanh năo ḷng vang lên -  

-   Âm vang như một Chuyến tàu, Tuppence nói với một hi vọng bất ngờ.

Đó là một đoàn tàu - rồi bên dưới cô là đường rầy xe lửa và một đoàn tàu chở hàng đang vừa chạy vừa phát ra những tiếng c̣i hụ năo ḷng vừa nhả ra những làn khói. Phía xa là con kênh và bên kia con kênh là ngôi nhà mà Tuppence nhận ra, băng qua con kênh là cây cầu một mái ṿm cung, màu gạch hồng. Đường lộ ch́m bên dưới đường sắt, nhô lên, đi về hướng chiếc cầu. Tuppence lái rất chậm bên chiếc cầu hẹp. Xa kia con đường tiếp tục chạy dài với ngôi nhà bên cánh phải. Tuppence vừa lái vừa t́m đường vào. H́nh như không có lối vào. Một bức tường cao vô tư che khuất nó khỏi con đường.

Bây giờ căn nhà bên tay phải cô. Cô dừng xe lại đi bộ trở lại cầu và từ đó cô quan sát được những ǵ cô có thể nh́n thấy ở ngôi nhà.

Hầu hết những cửa sổ cao đều có những cánh cửa màu xanh lục đóng kín. Ngôi nhà có một vẻ rất yên tĩnh và trống trải. Dưới ánh sáng mặt trời lặn trông  thái b́nh và dễ chịu. Không có chi gợi ư có người ở đó. Cô trở lại xe lái xa hơn một chút. Bức tường, một bức tường cao tầm thước, chạy dọc bên phải cô. Phía tay trái con đường chỉ là một hàng rào chạy thẳng ra những cánh đồng.

Ngay sau đó cô lái đến một cánh cửa sắt rèn. Cô đậu xe bên lề đường, bước ra nh́n qua cánh cửa sắt. Đứng nhón gót chân cô có thể xem xét kĩ lưỡng. Cái mà cô nh́n vào là một khu vườn. Bây giờ chỗ đó chắc chắn không phải là một nông trại, mặc dù một lần nó đă là một nông trại. Tin chắc khu vườn hướng thẳng ra cánh đồng đằng xa. Khu vườn được trồng trọt và chăm sóc. Nó không được ngăn nắp lắm nhưng có vẻ như một người nào đó đang cố gắng giữ cho khu vườn được sạch sẽ ngăn nắp mà không thành công lắm.

Từ cánh cổng sắt một lối đi hẹp h́nh ṿng cung xuyên qua khu vườn ṿng quanh ṭa nhà. Tin chắc đây là mặt tiền nhà, mặc dù trông nó không giống như mặt tiền. Thật khó nhận thấy mặc dù vững chắc - một cánh cửa sau. Từ phía này ngôi nhà hoàn toàn khác. Khởi đầu, nó không hoang vắng. Người ta sống ở đây. Cửa sổ mở, những màn cửa rung rinh quanh chúng, một xô rác trước cánh cửa lớn. Cuối đằng xa khu vườn Tuppence có thể thấy một người đàn ông to béo đang đào, một người đàn ông có tuổi cao lớn ông ta chậm răi kiên tŕ đào bới. Chắc chắn nh́n từ phía này ngôi nhà không quyến rũ, không nghệ sĩ nào muốn vẽ nó. Nó chỉ là một ngôi nhà có người ở. Tuppence tự hỏi. Cô lưỡng lự. Ta có nên tiếp tục đi và quên ngôi nhà? không, cô khó mà làm được điều ấy, sau tất cả những rắc rối cô gặp phải. Mấy giờ rồi? Cô nh́n đồng hồ nhưng đồng hồ tay cô đứng. Âm thanh một cánh cửa mở ra bên trong. Cô chăm chú nh́n qua cánh cổng lần nữa.

Cánh cửa nhà mở và một phụ nữ bước ra. Bà ta đặt một b́nh sữa xuống rồi đứng thắng người lên, liếc nh́n về phía cổng. Bà thấy Tuppence và lưỡng lự một phút, rồi dường như đă quyết định, người đàn bà bước xuống lối đi đi về phía cổng. ‘sao thế, Tuppence lẩm bẩm, sao nhỉ, đó là một mụ phù thuỷ thân thiện!’

Đó là một người đàn bà chừng năm mươi tuổi. Bà ta có mái tóc dài rối bời v́ gió, bay tung phía sau. Nhắc Tuppence mơ hồ nhớ đến một bức tranh( của Nevínon?) về một mụ phù thuỷ trẻ trên cán chổi. Có lẽ điều đó giải thích v́ sao thuật ngữ phù thuỷ đến trong trí cô. Nhưng người đàn bà này không có ǵ trẻ đẹp. Bà ta trạc trung niên, một nét mặt có vết nhăn, ăn mặc khá cẩu thả. Bà ta đội một cái mũ h́nh tháp chuông mũi và cằm th́ tới gần nhau. Như đă nói bà ta có thể ác nhưng bà ta không có vẻ ǵ độc ác. Bà ta dường như có một thiện tâm toả sáng vô hạn. ‘Phải, Tuppence thầm nghĩ, ‘chính xác bà Giống như là một mụ phù thủy, nhưng bà là một phù thuỷ Thân thiện. Tôi nghĩ bà là điều mà người ta thường gọi một“ phù thủy trắng”.

Người đàn bà ngập ngừng bước đến cánh cổng và nói. Giọng bà ta vui vẻ với một âm thanh thôn dă yếu ớt.

-   Có phải cô đang t́m kiếm cái ǵ?

-   Tôi xin lỗi, Tuppence nói, hẳn bà nghĩ tôi rất thô lỗ khi nh́n vào vườn của bà bằng cách này, nhưng - nhưng tôi đang tự hỏi về căn nhà này.

-   Cô có vui ḷng vào và nh́n quanh vườn không? Mụ phù thuỷ thân mật nói.

-   Tốt - tốt - cám ơn bà nhưng tôi không dám làm phiền.

-   Không có chi. Tôi không có chi để làm cả. Buổi chiều đẹp chứ nhỉ?

-   Vâng, đúng thế.

-   Tôi nghĩ có lẽ cô lạc đường. Bà phù thủy thân thiện nói. Đôi khi người ta bị vậy.

-   Tôi chỉ nghĩ đây là một ngôi nhà rất quyến rũ khi tôi đi xuống ngọn đồi phia bên kia chiếc cầu.

-   Đó là phía đẹp nhất. Thỉnh thoảng các nghệ sĩ đến vẽ phác hoạ. Hoặc họ quen với chuyện đó - một lần thôi.

-   Vâng. Tôi nghĩ họ sẽ vẽ. Tôi tin là tôi - tôi đă nh́n thấy một bức tranh - tại một cuộc triển lăm nào đó, cô vội vă thêm vào. Một số căn nhà rất giống ngôi nhà này. Có lẽ Là ngôi nhà này đây.

-   Có thể. Khôi hài thật, cô biết chứ, các nghệ sĩ đến và vẽ tranh. Rồi các nghệ sĩ khác dường như cũng đến. Vẫn y như thế khi hàng năm họ đều có cuộc triển lăm tranh địa phương. Những nghệ sĩ h́nh như chọn cùng một địa điểm. Tôi không hiểu v́ sao. Cô không hiểu v́ sao. Cô biết không, hoặc là một đồng cỏ và suối nhỏ, hay một cây sồi đặc biệt, hay một bụi  liễu, hay cùng quang cảnh nhà thờ Normand. Năm sáu tranh khác nhau vẽ cùng một cảnh vật, đa số rất xấu, tôi nghĩ thế. Nhưng tôi không hiểu chi về nghệ thuật cả. Xin mời vào.

-   .Bà tử tế lắm. Tuppence nói. Bà có một khu vườn rất đẹp. Cô thêm vào.

-   Không tệ lắm. Chúng tôi trồng ít rau, hoa và những món khác. Nhưng hiện nay ông ấy không thể lao động nhiều và tôi không có th́ giờ cho việc này việc khác.

-   Tôi thấy ngôi nhà này một lần từ xe lửa. Xe lửa đi chậm lại tôi thấy ngôi nhà này và tự hỏi có khi nào ḿnh gặp lại nó không. Cách đây khá lâu rồi.

-   Bây giờ bất ngờ cô lại đi xuống ngọn đồi bằng xe hơi và ngôi nhà đó là đây. Không thể tin được, những sự việc lại xảy ra như thế, phải không nào?

Tạ ơn Chúa. Người đàn bà này dễ nói chuyện cực ḱ. Người ta khó mà tưởng tượng ra cái ǵ đó để giải thích. Hấu như người ta có thể chỉ nói đúng những điều vừa nảy ra trong đầu.

-   Cô thích căn nhà này không? Mụ phù thủy thân mật nói. Tôi có thể hiểu là cô có quan tâm. Đó là một ngôi nhà hoàn toàn cổ, cô biết đấy. Tôi muốn nói, kiểu thời cuối Gerorgian, người ta nói nó vừa  được gia cố thêm thôi. Dí nhiên, chúng tôi chỉ được ở nửa căn nhà thôi.

-   Tôi hiểu rồi, nhà được chia hai, phải không?

-   Thật ra đây là phía sau. Mặt trước là phía kia, phía mà cô thấy tứ cái cầu. Cái lối chia nhà làm hai thật khó tin. Tôi nghĩ vậy. Tôi cho là chia nhà bằng cách khác th́ dễ chịu hơn. Bên phải bên trái, vậy đó. Không sau hay trước. Tất cả phần này thật ra là phía sau.

-   Bà ở đây bao lâu rồi?

-   Ba năm. Sau khi chồng nghỉ hưu chúng tôi cần một chỗ nhỏ thôi ở nơi nào mà chúng tôi được yên tĩnh trong xứ. Đôi khi giá rẻ. Chỗ này rẻ bởi v́ sự hiu quạnh. Cô không ở gần làng hay nơi nào khác.

-   Tôi có thấy một nhà thờ chóp nhọn đằng xa.

-   Đó là Sutton Chancellor. Cách đây hai dặm rưỡi. Dĩ nhiên chúng tôi ở trong xứ đạo, nhưng không có bất cứ ngôi nhà nào cho đến khi cô đến làng. Đấy cũng là một ngôi làng nhỏ. Cô sẽ uống một tách trà chứ? Mụ phù thuỷ thân thiện nói. Tôi chỉ vừa mới đặt ấm nước chưa quá hai phút th́ nh́n ra và thấy cô. Bà đưa hai tay lên miệng hét lớn.” Armos”, bà gào,”Armos”.

Từ đằng xa người đàn ông mập mạp quay đầu lại.

-   Trà trong mười phút nữa. Bà nói.

Ông ta đưa bàn tay lên tỏ ư hiểu dấu hiệu. Bà quay lại, mở cánh cửa lớn và nhắc Tuppence bước vào.

-   Tên tôi là Perry. Giọng nói thân thiện. Perry.

-   C̣n tôi Beresford. Tuppence nói. Bà Beresford.

-   Mời vào, bà Beresford, cứ nh́n quanh cho đă.

Tuppence suy nghĩ một chút. Cô nghĩ” Đúng trong một phút ḿnh cảm thấy giống Hansel và Gretel. Mụ phù thuỷ yêu cầu bạn vô nhà mụ. Có lẽ là một ngôi nhà bằng bánh ga tô có mùi gừng... chắc là thế.”

Rồi cô nh́n Alice Perry lần nữa và nghĩ đây không phải là nhà của mụ phù thủy của Hansel và Gretel. Đây đúng là một người phụ nữ hoàn toàn b́nh thường.

Không, không hoàn toàn b́nh thường lắm. Đối với cô bà có một vẻ thân thiện hơi hoang dă đến ḱ. ‘ có lẽ bà ấy có khả năng mê hoặc,’ Tuppence nghĩ,’ nhưng ḿnh chắc chúng sẽ là những mê hoặc tốt.’ Cô cúi đầu thấp xuống một chút và bước lên bậc cửa vào nhà mụ phù thủy.

Bên trong hơi tối. Những hành lang th́ nhỏ. Bà Perry dẫn cô đi xuyên qua cái bếp vào pḥng khách bên kia rơ ràng là pḥng khách của gia đ́nh. Không có chi gây hứng khởi về căn nhà này cả. Tuppence nghĩ, có lẽ đó là phần gia cố thêm kiểu thời cuối Victorian cho phần chính. Bề ngang hẹp. Dường như gồm có một hành lang nằm ngang, hơi tối, đáp ứng nhu cầu một dăy pḥng. Cô thầm nghĩ chắc chắn việc chia đôi căn nhà là một kiểu khá ḱ dị, khác thường.

-   Mời ngồi và tôi sẽ mang trà vào. Bà Perry nói.

-   Để tôi giúp bà.

-   Đừng ngại, không qua 1 phút đâu. Tất cả sẵn sàng trên khay rồi.

Một tiếng c̣i rít lên từ bếp. Rơ ràng thời gian tĩnh của ấm nước đă đến độ cuối. Bà Perry ra ngoài và một hai phút sau trở lại với khay trà, một dĩa bánh xcôn, một hũ mứt trái cây ba tách và bốn dĩa trà.

-   Tôi cho là cô bị thất vọng nên mới vô nhà.

Đó là một nhận xét thông minh rất gần sự thật.

-   Ồ không. Tuppence đáp.

-   Nếu tôi là cô th́ tôi cũng thế. Chúng không cân xứng, phải không nào? Tôi muốn nói phía trước và sau của toà nhà không cân đối. Nhưng đây là một chỗ ở dễ chịu. Không quá nhiều pḥng, không nhiều ánh sáng nhưng nó tạo ra một giá khác biệt rất lớn.

-   Ai phân chia ngôi nhà này và tại sao?

-   Tôi tin cách đây khá lâu rồi. Tôi cho là bất cứ ai là chủ cũng nghĩ ngôi nhà quá lớn và quá bất tiện. Chỉ cần một nơi nghỉ cuối tuần hay một chỗ nào đó đại loại. V́ vậy họ giữ lại những căn pḥng đẹp, pḥng ăn pḥng vẽ và làm một cái bếp bên ngoài pḥng đọc sách, hai pḥng ngủ và pḥng tắm ở trên lầu, rồi xây tường bít lại và chừa lại những cái bếp những căn pḥng nhỏ để rửa bát đĩa đồ đạc, sửa lại một chút.

-   Ai ở trong những pḥng kia? Một kẻ vừa mới xuống vào dịp nghỉ cuối tuần?

-   Bây giờ không ai sống ở đó cả. Bà Perry đáp. Một cái bánh xcôn nữa nhé?

-   Cám ơn.

-   Trong hai năm qua it ra cũng không ai đến đây. Bây giờ tôi không biết nó thuộc về ai nữa.

-   Lần đầu tiên bà đến khi nào?

-   Có một quư cô trẻ thường xuống đây. Người ta nói cô ấy là nghệ sĩ. Ít ra đó là những ǵ tôi nghe được. Nhưng thật sự chúng tôi không bao giờ thấy cô ta. Thỉnh thoảng thấy thoáng qua. Cô thường đến lúc đă muộn vào mỗi tối thứ bảy sau sô diễn. Chiều chủ nhật thường đi xa.

-   Một phụ nữ hoàn toàn bí mật. Tuppence nói giọng khích lệ.

-   Cô hiểu đúng cách tôi thường nghĩ về cô ấy. Tôi hay dựng chuyện về cô ta trong đầu. Đôi khi tôi nghĩ cô ta là Greta Grabo. Cô biết không, cách Cô ta đi quanh luôn đeo kính đen c̣n mũ kéo xuống tận mặt. Ơn Chúa, tôi có kiếm cho ḿnh một cái mũ chóp nhọn.     

Bà ta hất cái mũ đội đầu ra rồi cười.

-   Cái này cho một vở kịch chúng tôi sắp diễn tại pḥng giáo xứ Sutton Chancellor. Một loại truyện thần tiên dành cho hầu hết trẻ em. Tôi đang đóng vai phù thủy. Bà thêm.

-   Ô, Tuppence nói, rồi nhẹ nhàng lùi lại, sau đó nhanh chóng thêm, vui nhỉ.

-   Phải, vui thật, chứ không à? Chính xác dành cho phù thủy, phải không nào? Bà ta cười vỗ vào má. Tôi cố kiếm một khuôn mặt hợp với vai. Hy vọng sẽ không nhét ư kiến vào trong đầu người khác. Họ sẽ nghĩ rằng tôi có con mắt qủy.

-   Tôi không cho họ nghĩ như vậy về bà. Tôi tin bà sẽ là một phù thủy được tin cậy.

-   Tôi vui cô đă nghĩ thế. Như tôi đang nói, nữ nghệ sĩ này - bây giờ tôi không nhớ tên cô ta -  tôi nghĩ tên cô là Marchement, hay có thể một cái tên khác - cô sẽ không tin những sự kiện tôi thường dựng lên về cô ta. Thật sự, tôi khó mà thấy hay nói chuyện với cô ta. Đôi khi tôi nghĩ chính xác cô ta nhút nhát kinh khủng và loạn thần kinh. Những phóng viên báo chí xuống đây đi theo cô với những chuyện như thế, nhưng cô ta không bao ǵờ gặp họ. Những lúc khác tôi thường nghĩ - cô sẽ bảo tôi ngu - tôi thường nghĩ những chuyện hung hiểm về cô ấy - cô biết đấy, cô ta sợ bị Nhận Diện. Có lẽ cảnh sát đang t́m cô. Có lẽ cô là một tội phạm nào đó. Thỉnh thoảng nó kích động, tạo thành những chuyện trong đầu. Đặc biệt khi cô không gặp nhiều người.

-   Không có người nào từng xuống đây với cô ấy hay sao?

-   Tôi không chắc. Dĩ nhiên những bức vách ngăn họ dựng lên khi chia đôi căn nhà rất mỏng, thỉnh thoảng người ta nghe những giọng nói và những sự kiện như vậy. Tôi nghĩ thỉnh thoảng vào dịp nghỉ cuối tuần cô ta đưa xuống đây một kẻ nào đó. Bà ta gật đầu. Một người đàn ông. Điều này giải thích v́ sao họ cần một nơi yên tĩnh như thế này.

-   Một người đàn ông có vợ. Tuppence nói, làm ra vẻ giả vờ quan tâm.

-   Phải, một người đàn ông có vợ, phải không?

-   Có lẽ đó là người chồng đến với cô ta. Ông ta thuê chỗ này trong vùng quê bởi v́ ông ta cần giết cô ta và có lẽ ông ta chôn cô trong vườn.

-   Trời ơi! Cô có một tưởng tượng quá lớn. Tôi chưa bao giờ nghĩ như thế.

-   Tôi giả sử có Ai đó phải hiểu rất rơ về cô ấy. Tôi muốn nói những đại lí nhà. Những người như vậy.

-   Tôi cũng nghĩ vậy. Nhưng tôi thích ḿnh đừng biết th́ hơn nếu cô hiểu những ǵ tôi muốn nói.

-   Vâng. Tuppence đáp, tôi hiểu chứ.

-   Ngôi nhà này có một bầu khí quyển, cô biết không. Tôi muốn nói có một cảm tưởng trong đó, một cảm tưởng rằng có một cái ǵ đó đă xảy ra.

-   Cô ta có ai đến dọn dẹp nhà hay làm cái ǵ như thế?

-   Khó kiếm người ở đây lắm. Gần đây có ai đâu.

Cửa ngoài bật mở. Người đàn ông to lớn vừa đào đất trong vườn bước vào. Ông ta đến chỗ rửa bát vặn ṿi nước, rơ ràng rửa tay. Rồi đi qua pḥng khách.

-   Đây là chồng tôi. Bà Perry giới thiệu. Amos. Chúng ta có một người khách, Amos. Đây là bà Beresford.

-   Ông có khỏe không? Tuppence nói.

Amos Perry là một người có tướng đi cà nhắc, cao. Ông ta to lớn và đầy quyền lực hơn Tuppence hiểu. Mặc dù có tướng đi cà nhắc và bước rất chậm,  lăo là một người đàn ông to lớn vai u thịt bắp. Lăo nói, ‘ vui ḷng được gặp bà, bà Beresford.’

Giọng lăo vui và lăo ta cười, nhưng Tuppence trong một thoáng cô tự hỏi lăo có thật sự là cái điều cô gọi là ‘ lành mạnh’ không. Có một tính chất phác đáng ngạc nhiên trong cặp mắt và cô cũng tự hỏi bà Perry có cần một chỗ yên tĩnh để sống bởi sự thiếu năng lực tinh thần hiển nhiên của chồng ḿnh không.

-   Ông ấy yêu vườn lắm. Bà Perry nói.

Do việc lăo đi vào cuộc đối thoại lắng xuống. Bà Perry nói gần hết nhưng cá tính của bà dường như có thay đổi. Bà tṛ chuyện với tính nhút nhát hơn và đặc biệt chú ư đến chồng. Tuppence nghĩ, để khuyến khích ông, trong một chừng mức nào đó mà một người mẹ có thể bơm cho một đứa trẻ nhút nhát có thể nói chuyện, tŕnh diễn mặt tốt nhất của ḿnh ra trước một người khách, mà v́ hơi nhút nhát có lẽ ông ta không đủ khả năng. Khi cô uống trà xong, Tuppence đứng lên. Cô nói’ Tôi phải đi. Cám ơn, bà Perry, rất cám ơn ḷng hiếu khách của bà.’

-   Bà sẽ xem vườn trước khi bà đi chứ. Ông Perry đứng dậy. Nào, đi thôi. Tôi sẽ chỉ cho bà thấy.

Cô đi với lăo ra ngoài và lăo dẫn cô đến cái góc đằng xa lăo đang đào.

-   Những cây hoa này có đẹp không? Đây có một số hoa hồng lỗi thời - xem cái này, màu đỏ và trắng có sọc.

-   Commandant Bearepaire. Tuppence nói.

-   Chúng tôi gọi nó là’ York và Lancaster’. Chiến tranh giữa các hoa hồng. Mùi ngọt, hả?

-   Mùi thơm tuyệt vời.

-   Thơm hơn chúng là Hybrid Teas kiểu mới.

Trong một chừng mực nào đó khu vườn hơi không tương xứng. Những hạt giống kiểm tra thiếu hoàn hảo, c̣n hoa được cột cẩn thận kiểu nghệ sĩ.

-   Những màu sáng, lăo Perry nói. Tôi thích những màu sáng. Chúng tôi thường đem người tới coi vườn, vui mừng là cô đă đến.

-   Cám ơn ông rất nhiều. Tôi nghĩ vườn và nhà ông thật sự rất dẹp.

-   Cô phải xem phía kia nữa.

-   Nó để vậy hay để bán? Vợ ông hỏi. Bây giờ không ai ở gần đây cả.

-   Chúng tôi không biết. Chúng tôi không thấy ai, không có biển treo và không ai từng đến thăm bên đó.

-   Tôi nghĩ, đó sẽ là một ngôi nhà đẹp để ở.

-   Cô cần một căn nhà à?

-   Phải, Tuppence đáp, quyết định nhanh. Vâng, thật sự chúng tôi đang t́m quanh trong xứ một chỗ nhỏ, dành cho khi chồng tôi về hưu. Có lẽ năm tới, nhưng tôi thích t́m quanh  đây khi c̣n có thời gian.

-   Nếu cô thích yên th́ ở đây yên tĩnh rồi.

-   Tôi cho là vậy, tôi có thể hỏi đại lí nhà địa phương. Có phải đó là cách ông kiếm nhà?

-   Đầu tiên chúng tôi đọc thông báo trên báo. Rồi mới đến đại lí nhà.

-   Chỗ ấy ở đâu - trong Sutton Chacellor? Đó là làng ông, phải không?

-   Sutton Chancellor? Không. Những văn pḥng đại lí đặt ở chợ Basing. Russell và Thompson, đó là cái tên. Cô có thể đi gặp họ mà hỏi.

-   Vâng, Tuppence đáp, tôi sẽ làm. Từ đây đến chợ Basing bao xa?

-   Mất hai dặm đến chợ Basing và bảy dặm đến Sutton Chancellor. Có một con lộ chính từ Sutton Chancellor c̣n quanh đây toàn là đường ṃn.

-   Tôi hiểu. Xin tạm biệt, ông Perry, cám ơn rất nhiều đă cho tôi xem vườn ông.

-   Đợi một chút. Lăo ta cúi xuống, cắt một cái hoa khổng lồ và nắm ve áo Tuppence, lăo nhét qua lỗ nút áo cô. Đó, của cô đó. Trông đẹp quá.

Trong một phút Tuppence cảm thấy nỗi kinh hoàng bất ngờ. Người đàn ông cao lớn, đi cà nhắc, tánh nết tốt bụng này làm cô sợ chết khiếp. Lăo ta nh́n cô cười. Cười khá là hoang dă, gần như đểu cáng. ‘ Trông cô rất đẹp,’ lăo lại nói.’ Đẹp.’

Tuppence nghĩ.“ Ta vui ta không c̣n là một thiếu nữ... ta không nghĩ ta thích lăo cài một bông hoa lên áo ta.” Một lần nữa cô nói lời tạm biệt rồi vội vă quay gót.

Cánh cửa ngôi nhà chợt mở và Tuppence đi vào tạm biệt bà Perry. Bà Perry ở trong bếp, lau chùi đồ trà c̣n Tuppence hầu như tự động kéo một tấm vải ra khỏi ḷ nướng bắt đầu lau khô.

-   Cám ơn nhiều. Cô nói. Bà và chồng bà. Bà quá tử tế và hiếu khách đối với tôi - Cái ǵ kia?

Từ nơi bức tường nhà bếp, hay đúng ra phía sau bức tường chỗ trước kia một dăy bếp ḷ cũ đứng, vọng ra một tiếng thét lớn đồng lúc với tiếng kêu quang quác và tiếng cào rạch.

-   Con quạ cổ xám đấy. Nó rơi xuống từ ống khói căn nhà bên kia. Lần nào trong năm nó cũng làm thế. Tuần qua nó rơi xuống ống khói nhà tôi. Cô hiểu không, chúng làm tổ trong ống khói.

-   C̣n cái ǵ trong nhà kia vậy?

-   Phải, lại nó lần nữa.

Một lần nữa tiếng quang quác và tiếng la của con chim lâm cảnh khốn cùng đến tai họ. Bà Perry nói. Không có ai trong ngôi nhà trống để chịu khó bỏ công ra, cô hiểu chứ. Những ống khói phải được chùi dọn và những thứ tương tự.

Tiếng kêu quang quác tiếng cào cấu vẫn tiếp tục.

-   Con chim khốn khổ.

-   Tôi biết. Tôi không thể đem nó lên nữa đâu.

-   Bà muốn nói nó sẽ chết ở đó à?

-   Như tôi nói nó bay xuống ống khói của chúng tôi. Hai con, thật thế. Một con chim non. Chúng tôi lôi nó lên và nó bay được, nó ổn rồi. Con kia đă chết.

Tiếng kêu quang quác và cuộc xô đẩy cuồng dại vẫn tiếp tục.

Ông Perry qua cánh cửa đi vào. Chuyện ǵ thế? Ông nói, nh́n người nọ đến người kia.

-   Có một con chim, Amos. Nó hẳn kẹt trong ống khói nhà bên kia. Nghe không?

-   Ê, nó đến từ tổ con quạ cổ xám mà.

-   Tôi ước chúng ta vào đó được.

-   A, bà không thể làm được ǵ sất. Chúng sẽ chết v́ sợ, nếu không có chi khác.

-   Nó sẽ bốc mùi.

-   Ơ đây cô không nên ngửi bất cứ cái ǵ. Cô mềm yếu lắm. Ông ta tiếp tục nh́n người nọ đến người kia,” giống như tất cả bọn đàn bà ”, nếu bà muốn tôi sẽ lấy nó ra.

-   Sao, có một cánh cửa sổ mở à?

-   Có thể vào qua cửa lớn.

-   Cửa nào?

-   Trong sân bên ngoài này. Ch́a khóa treo ở đó.

Lăo ta bước ra đi dọc đến cuối vườn, mở một cánh cửa lớn ở đó. Thật ra đó là một nhà kho ươm cây giống, nhưng một cánh cửa lớn lại dẫn vào phía nửa ngôi nhà kia và gần cửa lớn của kho ươm cây giống sáu bảy chiếc ch́a khóa rỉ treo trên một cái đinh.

-   Đây là một cái ch́a khớp. Lăo Perry nói.

Lăo lấy cái ch́a xuống tra vào ổ, sau khi nhiều lần phỉnh phờ gây sức ép và cưỡng bức, ch́a khoả rỉ sét trong ổ.

-   Trước tôi đă vào đây một lần, lăo nói, khi tôi nghe tiếng nước chảy. Một người nào đó đă quên khóa ṿi nước cho khớp.

Lăo đi vào và hai người phụ nữ theo sau. Cánh cửa dẫn vào một pḥng nhỏ gồm những chậu bông khác nhau trên những cái kệ và một chậu rửa chén có một ṿi nước.

-   Một pḥng để hoa, tôi không ngạc nhiên mà. Nơi người ta thường chuẩn bị bông. Xem nào? Có nhiều chậu ở đây.

 Có một cánh cửa mở ra ngoài pḥng để hoa. Cửa này không khoá. Lăo mở cửa đi qua. Tuppence nghĩ, giống như đi vào một thế giới khác. Đường hành lang phía ngoài được phủ một đống thảm. Một lối đi nhỏ dọc theo có một cánh cửa lớn khép hờ và từ đó vọng đến tiếng đập cánh của con chim khốn khổ. Perry xô cửa mở ra và vợ lăo cùng Tuppence bước vào.

Những cửa sổ khép chặt nhưng có một phía một cánh cửa chớp đang treo lủng lẳng và ánh sáng lọt vào. Mặc dù căn pḥng mờ tối, vẫn có một tấm thảm tuyệt đẹp trên sàn nhà, màu xanh lục đậm. Có một cái kệ dựa vào tường nhưng không có bàn ghế. Đồ đạc chắc chắn đă dời đi, những bức màn và thảm để lại như những đồ đạc cố định trao cho người thuê tiếp.

Bà Perry đi về phía ḷ sưởi. Con chim nằm trong vỉ chắn ḷ đang vùng vẫy thốt ra những tiếng kêu quang quác lớn trong cảnh túng cùng. Bà ta cúi xuống, nhặt con chim lên và nói. Mở cửa sổ ra nếu ông có thể, Amos.

Amos bước qua, kéo cửa chớp sang bên, mở khoá phía bên kia rồi đẩy mạnh chốt cửa. Ông bực bội nâng tấm cửa thấp có khung trợt lên. Ngay khi cửa mở ông Perry chồm ra ngoài thả con quạ. Nó lắc lư trên cỏ, nhảy nhanh vài bước.

-   Tốt hơn giết nó đi, nó bị thương rồi. Perry nói.

-   Để nó đó một chút, bà vợ nói. Cô không bao giờ hiểu. Loài chim hồi phục rất nhanh. Sự sợ hăi khiến chúng có vẻ như bại liệt đó thôi.

Quả thế, vài phút sau với một sức chiến đấu cuối cùng, con quạ mỏ khoang đập cánh bay đi.

-   Tôi chỉ hi vọng, Alice Perry nói, nó không xuống ống khói nữa. Những sinh vật mâu thuẫn, loài chim ấy. Không hiểu chuyện ấy có ǵ hay cho chúng. Bay vào một căn pḥng, không bao giờ chúng tự bay ra được. Ô, bà ta thêm vào, thật là hỗn độn.

Bà, Tuppence và ông Perry ba người chăm chăm nh́n vào tấm vỉ chắn ḷ. Từ ống khói là một đống mồ hóng, rác rưởi ḱ lạ và những viên gạch bể rớt xuống. Rơ ràng cách đây ít lâu nó được sửa chữa tồi.

-   Một ai đó đă đến sống ở đây. Bà Perry nh́n quanh.

-   Một ai đó phải  chăm sóc ngôi nhà, Tuppence đồng ư với bà. Một kĩ sư xây dựng phải xem xét và làm cái ǵ đó hoặc toàn bộ ngôi nhà sẽ sụp đổ.

Có lẽ nước đang chảy qua mái nhà vào đỉnh những căn pḥng. Phải, nh́n cái trần nhà ḱa, nước xuyên qua đó.

-   Thật đáng xấu hổ. Tuppence nói. Làm đổ sụp một căn nhà đẹp - thật sự là một căn pḥng đẹp, phải không?

Cô và bà Perry cùng nh́n nhau thông cảm. Xây vào khoảng 1970 nó có tất cả sự sang trọng của một ngôi nhà thời đó. Nó có nguyên một mẫu những lá liễu in trên giấy dán tường không màu.

-   Nó sụp đổ bây giờ đấy.

Tuppence cời đống đổ nát vào cái rá ḷ.

-   Người ta nên quét nhà mới phải.

-   Bây giờ bà muốn ǵ khi làm phiền ḿnh với một ngôi nhà không thuộc về bà? Chồng bà nói. Để nó yên, thưa bà. Sáng ngày mai nó sẽ lại trong t́nh trạng như cũ cho coi.

Với một ngón chân Tuppence chuyển động nhẹ nhàng những viên gạch sang bên.

-   Ô, cô kêu lên một tiếng nhờm tởm.

Có hai con chim chết nằm trong ḷ sưởi. Bằng vẻ bên ngoài của chúng th́ chúng đă chết khá lâu.

-   Cái ǵ đây? Tuppence hỏi.

Cô dùng đầu ngón chân khều một vật ǵ đó nằm ẩn trong đống rác. Rồi cô cúi xuống và nhặt lên.

-   Đừng đụng vào con chim chết ấy.

-   Nó không phải là một con chim. Một cái ǵ khác ắt phải rơi xuống ống khói. Tôi chưa bao giờ, cô thêm vào, nh́n chăm chăm vật ấy. Đó là một con búp bê. Con búp bê trẻ em.

Họ nh́n xuống. Tả tơi, rách rưới, quần áo là những mảnh vụn, đầu nó thơng xuống vai, nguyên thủy hẳn là búp bê của một đứa trẻ. Một con mắt thủy tinh rơi ra ngoài. Tuppence vẫn c̣n giữ nó.

-   Tôi tự hỏi, cô nói, tôi tự hỏi làm sao con búp bê lại lên trên một ống khói được chứ. Phi thường lạ lùng quá.

v     

 

8.SUTTON CHANCELLOR

 

Sau khi rời khỏi ngôi nhà bên con kênh, Tuppence lái xe dọc son đường uốn khúc hẹp cô đoán chắc sẽ đưa ḿnh đến làng thuộc Sutton Chancellor. Đó là một con đường cách biệt. Từ đó không nh́n thấy nhà - chỉ có những cánh cổng chắn từ đó những con đường ṃn đầy bùn dẫn thẳng ra cánh đồng. Xe cộ rất ít - Có một xe máy kéo chạy dọc theo con đường, một chiếc xe tải chở hàng với bức tranh một ổ bánh khổng lồ trông thiếu tự nhiên kiêu hănh loan báo nó mang theo niềm hoan lạc của người Mẹ. Tháp chuông nhà thờ cô nh́n thấy từ xa dường như ḥan toàn biến mất -  nhưng cuối cùng tái hiện hoàn toàn khá gần tầm tay sau khi con đường ṃn th́nh ĺnh uốn khúc và ṿng rất gắt quanh một đai cây. Tuppence liếc nh́n đồng hồ đo tốc độ trên xe thấy ḿnh đă chạy được hai dặm từ ngôi nhà bên con kênh.

Đó là một nhà thờ cổ quyến rũ tọa lạc trong một khu sân nhà thờ khá lớn với vài cây thông đỏ đứng kề bên.

Tuppence để xe ngoài cổng có mái che, để dành vài phút đứng ngắm nhà thờ và sân nhà thờ vây quanh. Đoạn cô bước tới cánh cửa lớn có ṿm cung kiểu Normand nâng tay nắm nặng nề lên. Cửa không khóa cô bước vào trong.

Bên trong không đẹp. Chắc chắn nhà thờ là một nơi cũ kĩ nhưng được nhiệt t́nh sơn quét và chùi dọn sạch sẽ. Ngoài sân những ghế băng bằng gỗ thông có lưng dựa màu đỏ rực rỡ và những cửa sổ có kính màu xanh lục đă phai tàn phần nào vẻ đẹp cổ xưa nó đă một lần sở hữu. Một phụ nữ trung niên trong chiếc áo choàng và váy đầm bằng vải tuưt đang cắm hoa trong những cái b́nh đồng xung quanh bục giảng kinh. Làm xong việc bàn thờ cô nh́n Tuppence ḍ hỏi đề cao cảnh giác. Tuppence bước lên lối đi giữa hai dăy ghế nh́n những phiến đá làm bia kỉ niệm gắn trên những bức tường. Trong những năm xưa h́nh như một gia đ́nh Warrender nào đó được giới thiệu đầy đủ nhất. Tất cả đều thuộc Tu Viện, Sutton Chancellor. Đại uư Warrender, Thiếu tá Warrender, Sarah Elizabeth Warrender, người vợ yêu của George Warrender. Một phiến đá mới ghi  nhận cái chết của Julia Starke( người vợ yêu khác) của Philip Starke, cũng thuộc về tu viện, Sutton Chancellor -  dường như gia đ́nh Warrender chết sạch. Không ai trong gia đ́nh họ được gợi ư hay chú ư đặc biệt cả. Tuppence lại ra bên ngoài nhà thờ lần nữa. Theo Tuppence, bên ngoài quyến rũ hơn bên trong.” Thời tiền Perp. Và Dec,” Tuppence người được nuôi dạy với những khái niệm kiến trúc Cơ đốc giáo quen thuộc nói cho ḿnh nghe. Cô đặc biệt  không ưa thời tiền Perp.

Đó là một ngôi nhà thờ kích thước cân xứng và cô nghĩ rằng có một lần chắc chắn ngôi làng của Sutton Chancellor là trung tâm quan trọng của cuộc sống thôn dă khá hơn bây giờ. Cô để xe lại đó đi bộ tới làng. Làng có một cửa hàng một bưu điện và độ chừng mười hai nóc nhà nhỏ hoặc nhà tranh. Một hai ngôi nhà lợp mái rơm c̣n những nhà khác th́ đơn giản không đẹp. Có sáu trụ sở hội đồng địa phương cuối làng nh́n hơi thiếu tự nhiên. Một tấm bảng đồng treo trên cửa lớn thông báo:“ Arthur Thomse, chùi ống khói.”

Tuppence tự hỏi có bất cứ đại diện nhà đất đáng kính nào kí hợp đồng sửa chữa ngôi nhà bên con kênh chắc chắn cần đến họ. Cô nghĩ ḿnh đă điên biết bao không hỏi tên ngôi nhà.

Cô chậm răi đi bộ trở lại phía nhà thờ, và xe, ngừng lại quan sát sân nhà thờ thật kĩ. Cô thich sân nhà thờ hơn. Trong sân có rất ít mộ mới chôn. Hầu hết các bia đá kỉ niệm đều là mộ chôn thời Victorian, và thời ḱ trước - nửa bị hư bởi địa y và thời gian. Những ḥn đá xưa rất đẹp. Một số đá với những tiểu thiên sứ đứng trên đỉnh bị để đại lên, và những ṿng hoa chung quanh chúng. Cô đi loanh quanh, xem nhừng lời ghi trên mộ chí. Lại gia đ́nh Warrender. Mary Warrender, tuổi 47, Alice Warrender, tuổi 33, Đại tá John Warrender bị giết ở Afghanistan. Những đứa trẻ khác nhau của gịng họ Warrender - ḷng thương tiếc sâu sắc - những vần thơ hùng biện đầy hi vọng tốt đẹp. Cô hỏi ḿnh có ai mang họ Warrender c̣n sống nơi đây không. Rơ ràng họ đă thôi không c̣n được chôn ở đây nữa. Cô không thể t́m ra bất cứ bia mộ nào muộn hơn năm 1843. Ṿng quanh cây thông đỏ cao cô chợt thấy một tu sĩ già đang cúi ḿnh trên một dăy bia mộ cũ gần một bức tường sau nhà thờ. Ông đứng thẳng người lên khi Tuppence đến gần.

-   Xin chào, ông vui vẻ nói.

-   Xin chào. Tuppence đáp rồi thêm. Con đang ngắm nhà thờ.

-   Bị sụp đổ bởi thời Victorian phục hưng. Tu sĩ nói.

Ông có một giọng nói vui vẻ và một nụ cười dễ mến. Ông khoảng chừng 70 nhưng Tuppence tin chắc ông chưa hoàn toàn đến tuổi đó, dầu vẻ như ông bị thấp khớp và đôi chân đứng không vững.

-   Qúa nhiều tiền thời Victorian, ông buồn bă nói. Quá nhiều ông chủ đúc sắt. Họ là những tu sĩ, bất hạnh thay, chẳng có ư thức chi về nghệ thuật. Không có khiếu thẩm mỹ. Cô có thấy cái cửa sổ hướng đông kia không? Ông ta rùng ḿnh.

-   Vâng. Tuppence đáp. Đáng sợ thật.

-   Tôi không thể đồng ư với cô nữa. Tôi là cha cố, ông nói thêm.

-   Con cũng nghĩ thế. Tuppence lich sự đáp. Cha đă ở đây bao lâu?

-   Mười năm. Đó là một giáo xứ. Những ǵ của họ đều tốt. Ở đây tôi rất hạnh phúc. Họ không ưa những bài thuyết giáo của tôi lắm. Ông buồn bă thêm. Tôi làm cái tốt nhất tôi có thể, nhưng tất nhiên cha không thể giả vờ hiện đại được. Ngồi xuống đây. Ông nói thêm vẻ hiếu khách, phẩy tay chỉ một phiến bia mộ bên cạnh.

Tuppence ngồi xuống đầy biết ơn c̣n cha cố ngồi trên một tấm đá bia gần đó.

-   Cha không thể chịu đựng lâu được nữa. Ông nói giọng xin lỗi. Cha có thể làm ǵ cho con hay con chỉ đi ngang thôi?

-   Thật ra con chỉ đi ngang. Tuppence đáp. Con nghĩ con chỉ nh́n nhà thờ. Đắm ḿnh trong xe hơi lang thang quanh  những con đường hẹp.

-   Phải. Phải. Rất khó t́m ra một con đường lớn quanh đây. Nhiều bảng chỉ đường bị bể, c̣n Hội Đồng địa phương đáng lẽ sửa chữa th́ họ không làm. Cha không biết rằng việc đó vô cùng hệ trọng. Nói chung người ta lái xe xuống những con đường ṃn này không thường cố t́m đi nơi nào khác. Họ bị dính chặt vào những đường lộ chính. Đáng sợ. Ông lại thêm. Đặc biệt đường xa lộ cao tốc. Ít nhất, cha nghĩ vậy. Tiếng ồn, tốc độ và những tay lái thiếu thận trọng. Ô, không hề chú ư đến cha. Cha là một người già cục cằn. Con đừng bao giờ đoán cha đang làm chi ở đây. Ông nói tiếp.

-   Con thấy cha đang khảo sát những bia mộ. Có thói phá hoại những công tŕnh văn hoá nào không? Có tụi mười ba nào đập vỡ bia?

-   Không. Ngày nay cách suy  nghĩ riêng hướng về  qúa nhiều hộp điện thoại bị phá hỏng và tất cả những vật khác mà những tên phá hoại các công tŕnh văn hoá ấy làm. Những đứa trẻ khốn khổ. Chúng không biết chi về điều thiện, cha cho là thế. Đáng buồn, phải không? Rất buồn. Không. Nơi đây không có sự phá hoại ấy. Xét toàn thể trai tráng quanh đây tốt. À không, cha chỉ đang t́m ngôi mộ một đứa trẻ.

Tuppence chuyển ḿnh trên tấm đá bia. Mộ một đứa trẻ ư?

-   Phải. Một người nào đó viết cho cha. Thiếu tá Waters nào đó. Ông ta hỏi coi có khả năng một đứa trẻ được chôn ở đây không. Tất nhiên, cha nh́n lên bảng đăng kí, nhưng không có bảng ghi nào có tên ấy cả. Cũng vậy thôi, cha đi ra ngoài quay lại nh́n những bia mộ. Cha nghĩ, con biết đấy, người viết thư đă nắm một cái tên sai, hay có sự nhầm lẫn.

-   Tên thánh là ǵ vậy? Tuppence hỏi.

-   Ông ta không biết. Có lẽ Julia lấy tên mẹ.

-   Đứa trẻ mấy tuổi rồi?

-   Ông ta lại không chắc. Toàn thể sự việc hơi mơ hồ, cha nghĩ người đàn ông có ư nghĩ hoàn toàn sai lạc về ngôi làng. Cha chưa bao giờ nhớ một gia đ́nh họ Water sống ở đây hay nghe đến tên họ.

-   C̣n gia đ́nh Warrender? Tuppence hỏi, trí nhớ cô trở về những cái tên trong nhà thờ. Nhà thờ dường như đầy những bảng đá dành cho họ và tên của họ rất nhiều trên những mộ chí ngoài này.

-   A, gia đ́nh ấy bây giờ chết sạch rồi. Họ có một gia sản lớn, một Tu viện cũ thế kỉ 14. Nó bị cháy sạch. Cách đây một trăm năm, v́ thế cha nghĩ bất cứ người Warrender nào ở lại đều đă rời đi - đi xa mà không trở về. Một người họ Victorian  giàu có tên Starke xây một ngôi nhà mới trên công trường. Một ngôi nhà rất xấu nhưng tiện nghi, người ta nói như thế. Rất tiện nghi. Những pḥng tắm, và tất cả. Cha cho rằng điều không giải thích được ấy Mới quan trọng.

-   Một việc h́nh như rất ḱ dị, ai đó đă viết thư và hỏi cha về ngôi mộ một đứa trẻ. Một người nào đó - một bà con?

-   Cha tưởng đến cha của đứa trẻ, một trong những bi kịch của chiến tranh. Một đám cưới bị tan vỡ kh́ người chồng phục vụ ở hải ngoại. Người vợ trốn đi với t́nh nhân khi người chồng đang phục vụ ở ngoại quốc. Có một đứa con, một đứa con chưa bao giờ ông nh́n thấy. Bây giờ hẳn đă lớn bộn, nếu cô bé c̣n sống. Chắc phải cách đây hai mươi năm hay hơn thế.

-   Sau khi t́m kiếm cô ta không phải là một thời gian dài sao?

-   Rơ ràng chỉ vừa mới đây thôi ông ta hay tin Có một đứa con. Mẫu tin đến với ông ta thuần tuư ngẫu nhiên. Toàn thể sự việc, câu chuyện lạ lùng thật.

-   Cái ǵ làm ông ấy nghĩ đứa trẻ được chôn ở đây?

-   Cha nghĩ ai đó t́nh cờ gặp vợ ông ta trong chiến tranh đă kể cho ông ta nghe rằng vợ ông nói cô ấy đang sống ở Sutton Chancellor. Con biết đấy, t́nh cờ thôi. Con gặp một ai đó, một người bạn hay một người quen con chưa hề gặp trong  nhiều năm, đôi khi họ có thể cung cấp cho con tin tức mà dù thế nào con cũng không kiếm ra. Nhưng bây giờ chắc chắn cô ta không c̣n ở đây - không từ khi cha ở đây. Hoặc trong vùng phụ cận xa chừng nào mà cha biết được. Dĩ nhiên, Có thể người mẹ ra đi dưới cái tên khác. Tuy vậy, cha biết người cha đang thuê những cố vấn pháp luật và những đại diện điều tra, và những cái không nói ra được, rất có thể họ có khả năng thu được kết quả sau cùng. Điều ấy cần thời gian. 

-   Có Phải đó Là Đứa Trẻ Tội Nghiệp Của Cô không? Tuppence th́ thào.

-   Xin lỗi, con nói ǵ?

-   Không có ǵ, Tuppence đáp. Ngày nọ một ai đó nói với con điều ǵ đó. “ Có Phải Đó Là Đứa trẻ Tội Nghiệp Của Cô Không?” Bất ngờ mà nghe đó là một việc gây giật ḿnh. Nhưng con không thật sự biết bà già nói câu ấy có hiểu ḿnh đang nói ǵ không.

-   Cha hiểu. Cha hiểu. Cha cũng thường như vậy. Cha nói những điều mà cha không thật sự hiểu ư nghĩa điều ḿnh nói. Thật là rối rắm.

-   Con hi vọng cha biết mọi việc về những người Bây Giờ họ sống ở đây chứ?

-   Chắc chắn không nhiều. Vâng. Tại sao? Có phải con muốn t́m hiểu về một người nào đó?

-   Con tự hỏi có một bà Lancaster nào đó đang sống ở đây không?

-   Lancaster? Không. Cha không nghĩ cha có nhớ lại cái tên ấy không.

-   Và có một ngôi nhà - hôm nay con lái xe không mục đích - không chủ ư đặc biệt ḿnh định đi đâu, chỉ lái theo những con đường ṃn -  

-   Cha hiểu. Rất đẹp, những con đường ṃn quanh đây. Và con có thể t́m thấy những mẫu vật hoàn toàn hiếm. Cha muốn nói, thực vật học ấy. Trong những bụi cây  ở đây. Tại những bụi cây này không ai hái hoa đâu. Không bao giờ chúng ta có du khách quanh đây điều đó chưa giải thích được. Ừ, thỉnh thoảng cha cũng t́m ra một số mẫu vật rất quư hiếm. Vi dụ, Cranesbell đầy bụi -  

-   Có một ngôi nhà bên một con kênh, Tuppence nói, từ chối bị đưa theo dấu chuyện thực vật.’ gần một cây cầu có một mái ṿm cung. Cách đây chừng hai dặm. Con tự hỏi tên nhà là ǵ.

-   Để cha xem nào. Cầu một nhịp h́nh ṿm cung bắt qua con kênh. A... có nhiều ngôi nhà như vậy lắm. Trại Merricol.

-   Đó không phải là một nông trại.

-   Cha hi vọng đó là nhà của Perry vậy -  Amos và Alice Perry.

-   Chính xác. Tuppence la lên. Một ông và bà Perry.

-   Bà ta là người trông đập vào mắt, phải không nào? Đáng chú ư, cha luôn luôn nghĩ thế. Rất đáng chú ư. Khuôn mặt thời trung cổ, con có nghĩ vậy không? Bà sắp đóng vai mụ phù thủy trong vở kịch chúng tôi dàn dựng. Con biết đấy, trường trung học trẻ em mà. Có phải bà ấy trông giống một mụ phù thủy?

-   Dạ đúng. Một mụ phù thủy thân thiện.

-   Như lời con nói, tuyệt đối hợp li. Phải, một mụ phù thủy thân thiện.

-   Nhưng ông ta -  

-   Phải, người bạn khốn khổ, cha cố nói. Tinh thần không hoàn toàn b́nh thường - nhưng không tổn hại đến ông ta.

-   Họ rất dễ thương. Họ mời con vào v́ một tách trà. Nhưng điều con muốn biết là Tên của ngôi nhà. Con quên hỏi họ. Họ chỉ sống trong một nửa căn nhà, phải thế không?

-   Phải, phải. Trong những góc thường quen dùng như bếp cũ. Họ gọi nó là” Waterside,” cha nghĩ thế, mặc dù cha tin cái tên cũ là ‘Watermead’. Một cái tên khá vui, cha nghĩ vậy.

-   Phía kia của ngôi nhà thuộc về ai?

-   Toàn toàn thể ngôi nhà nguyên thủy thuộc về gia đ́nh Bradley. Cách đây khá nhiều năm rồi. Phải, ít ra ba bốn chục năm, cha phải nghĩ thế. Rồi nó được bán, rồi bán lần nữa sau đó để trống trong nhiều năm. Khi cha tới đây nó chỉ được dùng như một nơi nghỉ cuối tuần. Một nghệ sĩ nào đấy - cô Margrave, cha tin thế. Cô ta không ở đây nhiều. Chỉ thỉnh thoảng xuống. Cha không bao giờ biết cô. Cô không bao giờ đi nhà thờ. Thỉnh thoảng cha thấy cô từ xa. Một cô xinh đẹp. Một con người rất đẹp.

-   Bây Giờ ngôi nhà thật sự thuộc về ai? Tuppence khăng khăng.

-   Cha không có ư kiến. Có thể hăy c̣n thuộc về cô ta. Phần nhà gia đ́nh Perry ở chỉ là nhà thuê.

-   Con nhận ra điều đó, c̣n phải hỏi. Ngay khi con vừa nh́n thấy, bởi v́ con có một bức tranh về ngôi nhà.

-   Thật sao? Đó chắc phải là tranh của Boscombe, hay tên ông ta là Boscobel - bây giờ cha không thể nhớ. Một cái tên như thế. Hắn là một người Cornish, nghệ sĩ rất nổi tiếng, cha tin thế. Bây giờ cha tưởng tượng hắn chết rồi. Phải, hắn thường xuống đây thường xuyên. Anh ta  thường phác hoạ tất cả khu vực quanh đây. Tại đây anh ta cũng vẽ sơn dầu nữa. Một số tranh phong cảnh rất đẹp.

-   Bức tranh đặc biệt này được tặng cho một bà d́ già của con chết cách đây một tháng. Nó lại được bà Lancaster nào đó tặng. Đó là lí do tại sao con hỏi cha có biết tên của ngôi nhà?

Nhưng một lần nữa cha cố lắc đầu.

-   Lancaster? Lancaster. Không. H́nh như cha không nhớ cái tên. A! Nhưng có một người con phải hỏi. Cô Bligh thân mến của chúng ta. Cô Bligh ấy rất năng động. Cô biết tất cả về giáo xứ. Cô điều khiển mọi việc. Hội phụ nữ, Hướng đạo sinh, Người hướng dẫn - mọi việc. Con hỏi cô ấy đi. Cô ta rất năng động, thực sự rất năng động.

Cha cố thở dài. Hoạt động của cô Bligh h́nh như làm ông lo âu.’ Nellie Bligh, trong làng họ gọi cô như vậy. Đôi khi những cậu con trai hát theo cô. Nellie Bligh. Nellie  Bligh. Đó không phải cái tên gốc của cô. Nó là cái tên như Gretrude hay Graldine ǵ đó.

Cô Bligh, người phụ nữ mặc chiếc áo choàng bằng vải tuưt Tuppence đă thấy trong nhà thờ, đang rảo bước nhanh đến gần họ, hăy c̣n cầm một can nhỏ đựng nước. Khi đến gần, cô chiếu tướng Tuppence với cái nh́n ṭ ṃ sâu sắc, gia tăng cước bộ và khởi sự cuộc nói chuyện trước khi đến gần họ.

-   Tôi xong việc rồi, cô vui vẻ tuyên bố. Hôm nay hơi có vấn đề. Ô vâng, hơi có vấn đề. Tất nhiên, cha biết đấy, thưa cha, con thường làm việc nhà thờ buổi sáng. Nhưng hôm nay có cuộc họp khấn cấp tại những pḥng giáo xứ và thật sự cha không tin được nó mất thời gian thế nào! Quá nhiều cuộc tranh luận. Thật ra con nghĩ đôi khi người ta phản đối lại chỉ v́ niềm vui được làm như thế. Bà Partington đặc biệt nổi cáu. Muốn mọi việc được thảo luận đầy đủ, cha biết mà, và tự hỏi như là chúng tôi có kiếm đủ giá khác biệt từ những phim khác biệt không. Con muốn nói, toàn thể công việc dù sao là một giá thấp, thật sự một vài si-ling đây đó không thể tạo ra sự khác biệt được. Và Burkenheads luôn luôn đáng tin cậy nhất. Con thật sự không nghĩ, thưa cha, cha phải ngồi trên một tấm bia mộ như thế.

-   Có lẽ, bất kính thật.

-   Ô không, không, dĩ nhiên con không muốn nói chuyện đó Tới Bất Cứ Mức nào, thưa cha. Con muốn nói Ḥn đá, sự ẩm ướt đă thấm qua và với chứng thấp khớp của cha - mắt cô lướt nhẹ về phía Tuppence ḍ hỏi.

-   Hăy để cha giới thiệu con với cô Bligh. Cha cố nói. Đây là - đây là - cha lưỡng lự.

-   Bà Beresfold, Tuppence đáp.

-   A vâng, cô Bligh trả lời. Tôi thấy bà trong nhà thờ, không biết có nhầm không, vừa mới đây thôi, nh́n quanh khảo sát. Tôi muốn đến và nói chuyện với bà, gọi sự chú ư của bà đến một hai điểm đáng lưu tâm, nhưng tôi lại đang vội làm cho xong việc.

-   Đúng ra tôi phải đến và giúp cô, Tuppence nói giọng nói ngọt ngào nhất. Nhưng điều đó không ích ǵ, bởi v́ tôi thấy cô biết chính xác nơi nào những  bông hoa phải đến.

-   Rất dễ thương cho cô đă nói vậy, đó hoàn toàn là sự thật. Tôi làm việc cắm hoa nhà thờ trong - ồ tôi không biết bao nhiêu năm rồi. Chúng tôi để học sinh tự làm những b́nh hoa dại đặc biệt cho lễ hội, dĩ nhiên mặc dù chúng không có một chút ư kiến, tụi nhỏ khốn khổ. Thật sự tôi nghĩ đến một Ít lời hướng dẫn, nhưng bà Peake không bao giờ có bất cứ chỉ thị nào. Bà ấy quá ḱ dị. Bà ấy nói điều đó làm hỏng sáng kiến của chúng. Cô định ở lại đây à? Cô hỏi Tuppence.

-   Tôi định đến chợ Basing. Tuppence đáp. Có lẽ cô có thể chỉ cho tôi một khách sạn đẹp yên tĩnh để ở lại?

-   Tôi nghĩ cô sẽ hiểu chuyện ấy hơi không được vui. Đó chỉ là một phố chợ. Nó không cung cấp dịch vụ buôn bán xe hơi. Khách sạn Rồng xanh hai sao nhưng đôi khi tôi nghĩ những sao này Trong Bất Ḱ cách nào cũng không có ư nghĩa ǵ hết. Tôi nghĩ tốt hơn cô nên đến khách sạn Con Thỏ. Yên tĩnh hơn. Cô c̣n ở đây lâu không?

-   Không, chỉ một hai ngày trong khi tôi đi tham quan miền phụ cận.

-   Tôi e, không có chi nhiều để xem. Không có di tích thời cổ đại nào đáng chú ư hay cái ǵ như thế. Chúng tôi ở một miền thuần túy thôn dă và trồng trọt. Cha cố nói. Nhưng thanh b́nh, c̣n phải nói, rất thanh b́nh. Như cha nói với con, một số hoa rừng lại đáng chú ư.

-   A vâng, Tuppence đáp, con đă nghe và con đang lo hái vài mẫu trong những khoảng nghỉ khi  thực hiện một ít việc săn bắn dễ chịu.

-   Thú vị lắm, cô Bligh nói. Cô có nghĩ chuyện ổn định cuộc sống trong vùng phụ cận này không?

-   Nói chung chúng tôi chưa xác quyết rơ ràng ở một miền phụ cận nào. Tuppence nói. Chúng tôi không vội. Trong mười tám tháng nữa ông ấy vẫn chưa về hưu. Nhưng cũng luôn phải kiếm t́m quanh đây. Với tư cách cá nhân, cái điều tôi thích làm là ở lại trong một miền phụ cận bốn năm ngày, kiếm một danh sách những bất động sản nhỏ thích hợp với ḿnh và lái xe đi xem. Từ London xuống một ngày để coi một ngôi nhà đặc biệt rất mệt, tôi hiểu vậy.

-   Ô vâng, cô mang theo xe đến đây à?

-   Phải, Tuppence nói. Tôi phải đi kiếm một đại diện nhà tại chợ Basing sáng mai. Tôi giả thiết, không có nơi nào ở lại trong làng, phải không?

-   Tất nhiên, có nhà bà Copleigh, cô Bligh nói. Mùa hè bà ấy cho mọi người thuê. Khách mùa hè. Bà ấy chùi dọn đẹp đẽ. Tất cả các pḥng. Dĩ nhiên, bà ta chỉ làm giường và bữa sáng và có lẽ một bữa an nhẹ buổi tối. Nhưng cha không nghĩ bà ấy cho nhiều người thuê vào tháng tám hay tháng sáu vào thời ḱ sớm nhất.

-   Có lẽ con có thể đi và t́m hiểu vậy.

-   Bà ấy là một phụ nữ có giá nhất đấy. Cha cố nói. Lưỡi bà thích đùa. Bà không bao giờ ngừng nói, không  một phút nào.

-   Nói nhiều chuyện tầm phào và tán gẫu luôn luôn xảy ra trong những ngôi làng nhỏ này. Cô Bligh nói. Tôi nghĩ sẽ là một ư kiến hay nếu tôi giúp được bà Beresfold. Con có thể dẫn bà ấy đến bà Copleigh và chỉ xem coi có cơ hội không.

-   Cô rất tử tế.

-   Vậy chúng ta đi, cô Bligh nói nhanh. Chào cha. C̣n t́m kiếm sao? Một bài thử nghiệm đáng buồn và quá khó thành công được. Con thật sự nghĩ đó là một đ̣i hỏi vô lí Nhất.

Tuppence nói lời tạm biệt cha cố và bảo cô sẽ vui ḷng giúp ông nếu có thể.

-   Con  có thể dễ dàng xử dụng một hai giờ khảo sát những bia mộ khác nhau. Tuổi con mắt c̣n tinh lắm. Có phải cha chỉ đang t́m cái tên Waters?

-   Thật sự không. Cha cố đáp. Cha nghĩ, tuổi mới quan trọng. Một đứa trẻ độ chừng bảy tuổi. Một bé gái. Thiếu tá Waters nghĩ rằng có thể vợ ông đổi tên con gái và rất có thể người ta chỉ biết cái tên mới đổi ấy. Khi ông không biết tên con là ǵ, sự việc càng khó thêm.

-   Tới một chừng mức con có thể hiểu, toàn thể sự việc không thể tin được. Cô Bligh nói. Chưa bao giờ cha phải nói rằng cha sẽ làm một việc như thế, thưa cha. Điều đó vô nhân đạo, gợi ư một việc như thế.

-   Người bạn khốn khổ dường như rất bối rối. Lịch sử đều buồn, tới chừng nào cha có thể hiểu được. Nhưng cha không giữ con.

Khi được cô Bligh dẫn đi Tuppence nghĩ thầm việc bà Copleigh nổi tiếng nói nhiều không quan trọng, bà khó mà nói nhiều hơn cô Blligh. Một ḍng thác thông tin nhanh và độc tài tuôn ra từ môi cô.

Túp lều của bà Copleigh chứng tỏ là một nơi ở thú vị có nhiều pḥng xây lưng khỏi đường làng với phía trước một vườn hoa xinh xắn, một bậc cửa sơn trắng và một tay nắm bằng đồng đánh bóng. H́nh như đối với Tuppence bà Copleigh giống như một  nhân vật với vẻ đáng nể bước ra từ những trang truyện của Dicken. Bà ta rất nhỏ nhắn và rất tṛn, v́ vậy bà ta lăn về phía bạn trông giống như một trái banh cao su. Cặp mắt bà ta sáng lấp lánh, mái tóc vàng hoe cuốn thành những lọn xúc xích trên đỉnh đầu và một vẻ mạnh mẽ lạ thường. Sau khi tŕnh diễn một chút nghi ngờ đế bắt đầu với - ‘tôi không thường trực. Cô biết mà. Không. Chồng tôi và tôi nói” khách mùa hè, đó là khác.” Ngày nay mọi người đều làm thế nếu họ có thể làm. Và phải làm, tôi tin chắc. Nhưng tháng này trong năm, chúng tôi không có nhiều khách. Không cho đến tháng sáu. Tuy nhiên, nếu chỉ ở vài ngày và quư bà không ngại điều kiện ở hơi thô , th́ có lẽ -

’Tuppence nói cô không ngại đồ đạc thô sơ và bà Copleigh, đă quan sát cô kĩ lưỡng, không ngừng tiếng róc rách của ḍng suối đối thoại, bảo có lẽ quư bà sẽ vui ḷng lên xem pḥng, và rồi đồ đạc sẽ được sắp xếp.

Ngay lúc đó cô Bligh tự xé rào với ít tiếc nuối bởi v́ cô không có khả năng rút thêm nhiều thông tin cần thiết từ Tuppence mà cô cần. Như là bà đến từ đâu, chồng bà làm ǵ, bà mấy tuổi,  bà có con chưa và những vấn đề đáng quan tâm khác. Nhưng rơ ràng cô có một cuộc họp cô sắp chủ tọa và thật kinh khủng đánh liều để cho một kẻ khác nắm lấy địa vị đáng thèm khát đó.

-   Cô hoàn toàn ổn với bà Copleigh rồi, cô bảo đảm với Tuppence. Bà ấy sẽ săn sóc cô, tôi tin thế. Nào c̣n xe hơi của bà đâu?

-   Ô, tôi sẽ t́m nó ngay. Tupppnce đáp. Bà Copleigh sẽ nói cho tôi biết chỗ đậu. Thật sự tôi có thể để xe bên ngoài và đây không phải là con đường hẹp, phải thế không?

-   Chồng tôi có thể giúp cô việc đó tốt hơn. Ông ấy sẽ đậu xe trong cánh đồng cho cô. Chỉ ṿng quanh con đường hẹp phía bên này thôi, và rồi sẽ hoàn toàn ổn. Có một cái kho để hàng ông có thể đưa xe vào đó.

Trên cơ sở đó mọi việc được xếp đặt tử tế và cô Bligh vội vàng đến chỗ hẹn. Vấn đề bữa ăn tối sau đó được đặt ra.

-   Chúng tôi không có ǵ khi quư bà đến, bà Copleigh nói, nhưng nếu bà hài ḷng với hai quả trứng một khoanh mỏng thịt nạc và có thể ít bánh ḿ với jambông ở nhà làm          

-   Tuppence đáp điều đó thật tuyệt. Pḥng cô nhỏ nhưng vui mắt dễ chịu với giấy dán tường hoa hồng và một giường ngủ tiện nghi và một làn không khí chung th́ sạch sẽ không vết nhơ.

- Vâng, đó là loại giấy dán tường đẹp, thưa cô. Bà Copleigh nói, người dường như đồng ư với t́nh trạng đơn chiếc của Tuppence. Chúng tôi chọn loại giấy đó để cho bất cứ cặp vợ chồng mới cưới nào đến đây vào tuần trăng mật. Lăng mạn, nếu bà hiểu điều tôi nói.

Tuppence đồng ư sự lăng mạn là điều rất đáng mơ ứơc trong cuộc sống.

 - Ngày nay người ta không kiếm được nhiều để tiêu, những cặp mới lấy nhau ấy. Không phải là điều họ quen. Hầu hết những người cô biết đấy đang tiết kiệm tiền mua nhà hay làm giảm bớt những món phải trả. Hay họ bắt đầu mua sắm một số đồ đạc trong khi mua trả góp và điều này làm họ không c̣n tiền cho một tuần trăng mật sang trọng hay cái ǵ như thế. Khỏi phải nói, đa số người trẻ ấy đều thận trọng. Họ không cố thử hết tiền của họ.

Bà ta rổn rảng xuống lầu và bà ta c̣n nói nhanh lúc đi, Tuppence nằm xuống giường và ngủ một nửa giờ sau một ngày mệt mỏi. Tuy nhiên, hy vọng lớn lao cô nhằm vào bà Copleigh, cảm thấy một lần được nghỉ ngơi đầy đủ, cô sẽ có khả năng dẫn cuộc nói chuyện đến những đề mục có thể gặt hái được thành công. Tin chắc ḿnh sẽ lắng nghe, tất cả mọi chuyện về ngôi nhà bên con kênh, ai đă sống ở đó, trong vùng phụ cận kẻ nào từng nổi tiếng là ma quỷ hay thiên thần, ở đó có vụ tai tiếng nào và những đề mục tương tự. Khi được giới thiệu với ông Copleigh cô càng được thuyết phục về điều này hơn bao giờ, một người đàn ông mở miệng vừa đủ. Cuộc đối thoại của ông gồm những tiếng hự đáng yêu, thường mang ư nghĩa một sự xác định. Đôi khi một sự bất đồng, trong một âm giọng câm hơn.

Tới một chừng mức Tuppence có thể hiểu được ông ta hài ḷng để vợ nói. Ông ta hầu như tách rời sự chú ư của ḿnh, phần lớn thời gian bận rộn cho ngày kế tiếp có vẻ là phiên chợ.

Cho đến tận lúc Tuppence không có ǵ tốt hơn để có thể đưa ra liên hệ. Nó có thể được phân biệt bởi một câu châm ngôn - ‘anh muốn thông tin, anh đă có’. Bà Copleigh là một vô tuyến điện hay là một cái ti vi. Bà chỉ cần bấm nút là những lời lẽ tuôn ra kèm theo những cử chỉ và nhiều biểu lộ bằng nét mặt. Không chỉ con người bà như trái banh hơi của đứa trẻ, khuôn mặt bà cũng làm bằng cục tẩy cao su. Những con người khác nhau đang được bà nói đến hầu như sống động trong tranh biếm họa trước mắt Tuppence.

Tuppence ăn thịt heo nguội và trứng và vài khoanh bánh ḿ dày phết bơ và ca ngợi món mứt quả mâm xôi ở nhà làm, món sở thích của cô, cô thành thật loan báo, và nhanh chóng hấp thu tốt nhất ḍng suối thông tin để có thể ghi vào sổ tay sau này. Toàn cảnh quá khứ của miền này dường như giăng ra trước mặt cô.

Không có diễn tiến theo thứ tự nào xuất hiện điều đó làm cho sự việc khó khăn. Bà Copleigh nhảy từ mười lăm năm đến cách đây hai năm đến tháng qua, rồi trở lại một điểm nào đó từ số hai mươi. Tất cả điều này sẽ được phân loại nhiều. Tuppence tự hỏi cuối cùng ḿnh có gặt hái được ǵ không.

Nút đầu tiên bà ấn không cho cô kết quả ǵ. Đó là sự nhắc nhở đến bà Lancaster.

-   Tôi nghĩ bà ấy đến từ đâu đó, Tuppence nói, chấp nhận nhiều nét mơ hồ thể hiện qua giọng nói của ḿnh. Bà ấy có một bức tranh -  một bức tranh được vẽ rất đẹp do một hoạ sĩ tôi tin đă từng xuống đây.

-   Bà nói ai thế?

-   Bà Lancaster.

-   Không, tôi không nhớ bất cứ bà Lancaster nào trong những vùng này. Lancaster. Lancaster. Một người quư tộc bị một tai nạn xe hơi, tôi nhớ. Không, đó là tôi đang nghĩ đến chiếc xe hơi. Đó là một chiếc Lancaster. Không phải bà Lancaster. Cũng sẽ không phải cô Bolton, phải không? Tôi nghĩ bây giờ cô ta khoảng bảy mươi tuổi. Có thể cô đă cưới ông Lancaster. Cô ấy đi xa và du lịch ra ngoại quốc rồi và tôi có nghe cô ta cưới người khác.

-   Bức tranh bà ấy tặng d́ tôi do ông Boscobel vẽ - tôi nghĩ đó là cái tên, Tuppennce nói. Món mứt thật tuyệt.

-   Giống như hầu hết mọi người đều làm, tôi không cho táo vào. Mọi người nói như thế làm mứt đông hơn, nhưng khiến mùi hương không c̣n.

-   Phải, tôi hoàn toàn đồng ư với bà. Nó mất hương vị.

-   Hồi này cô nói ai? Nó bắt đầu bằng chứ B nhưng tôi chưa hoàn toàn nắm bắt được.

-   Boscobel, tôi nghĩ thế.

-   Ô, tôi nhớ ông Boscowan rất rơ. Nào hăy coi lại. Chắc phải là - ông  ta xuống đây cách đây ít nhất cũng mười lăm năm. Ông ta đến liên tục trong nhiều năm . Ông yêu thích chỗ này. Thực tế có thuê một túp lều. Đó là một trong những túp lều của Nông phu Hart, cái nhà ông ta giữ lại cho người làm thuê. Nhưng họ xây một ngôi nhà mới. Nhà hội đồng ấy. Bốn nhà tranh đặc biệt dành cho người làm thuê.

-   Ông B là nghệ sĩ b́nh thường, bà Copleigh nói. Ông thường mặc cái áo choàng không tin được. Loại vải nhung hay vải to sợi dày có sọc. Trong khủy tay áo có nhiều lỗ rách và ông mặc áo sơ mi màu xanh lục hay màu vàng. Ông ấy hả, rất thú vị.Tôi thích tranh ông ta. Một năm ông ấy có triển lăm. Thời gian khoảng gần lễ Giáng sinh. Không, dĩ nhiên không, phải là vào hè cơ. Mùa đông ông ấy không ở đây. Phải, rất đẹp. Nếu cô hiểu điều tôi nói, không có ǵ gợi hứng cả. Chỉ có một căn nhà với hai cái cây và hai con ḅ cái nh́n qua hàng rào. Nhưng tất cả  đều dễ chịu yên tĩnh và những màu sắc đều đẹp. Không giống như một số bạn trẻ ngày hôm nay.

-   Bà có nhiều nghệ sĩ xuống đây không?

-   Thật sự th́ không. Ô không, đừng nói đến chuyện đó. Một hai qúy bà đến đây  vào mùa hè và thỉnh thoảng làm vài bức phác thảo, nhưng tôi không nghĩ nhiều về họ. Cách đây một năm tôi có một người bạn trẻ, tự xưng là một  nghệ sĩ. Không đẽo gọt thích đáng. Tôi không thể nói tôi thích tranh anh ta nhiều. Dù sao tất cả những màu sắc đều cuốn xoáy mơ hồ. Cô không thể nhận thức được một chút ǵ. Hơn nữa anh ta bán nhiều tranh. Nhắc cô, là chúng không rẻ.

-   Chắc phải năm pound. Lần đầu tiên ông Copleigh th́nh ĺnh xen vào cuộc đối thoại khiến Tuppence nhảy nhổm.

-   Cái chồng tôi nghĩ là, bà Copleigh lấy lại vị trí của ḿnh như để lí giải giùm cho chồng. Ông ấy nghĩ không có tranh nào quá năm pound. Sơn dầu không đắt như vậy. Đó là những ǵ ông muốn nói, phải không, George?

-   A. George trả lời.

-   Ông Boscobwan sơn một căn nhà bên một cây cầu nhỏ có mái h́nh cung và con kênh - Waterside hay Watermead, nó được gọi thế nào? Hôm nay tôi đến hướng đó.

-   Cô đi dọc theo con đường đó sao? Nó không phải là con lộ, phải không nào? Rất hẹp. Ngôi nhà đơn độc, tôi luôn nghĩ thế. Quá hiu quạnh. Ông  có nghĩ thế không, George?

George tạo một âm thanh diễn tả sự bất đồng yếu ớt và có thể khinh bỉ sự nhát gan của phụ nữ.

-   Đó là nơi Alice Perry sống mà.

Tuppence đành bỏ qua sự t́m kiếm tin tức ông Boscowan để tán thành với ư  kiến về gia đ́nh Perry. Cô nhận thấy rằng, điều này tốt hơn là đi theo bà Copleigh người luôn nhảy từ vấn đề này sang vấn đế khác.

-   Họ là một đôi ḱ dị.

George làm một âm thanh đồng ư.

-   Họ giữ bí mật cho nhau. Như cô nói, không hoà trộn lẫn nhau. Cô ta đi quanh trông giống như không có ǵ trên đời này, Alice Perry đấy.

-   Điên. Ông Copleigh nhận xét.

-   Tôi không biết tôi có nói thế không. Bà ấy th́ trông có vẻ điên rồi. Tóc bay tung. Hầu hết thời gian bà ấy mặc áo choàng đàn ông mang ủng cao su lớn. Bà nói những chuyện ḱ quặc và nhiều khi không trả lời cô khi cô hỏi bà một câu. Nhưng tôi không bảo bà ấy điên. Ḱ quặc, chỉ thế thôi.

-   Mọi người có thích bà ta không?

-   Hầu như không ai biết bà, mặc dù họ đă ở đây nhiều năm. Có đủ loại chuyện kể về bà ta nhưng rồi th́, đó luôn là những câu chuyện kể.

-   Loại  chuyện nào?

Những câu hỏi trực tiếp không bao giờ khién bà Copleigh lưỡng lự, người chào đón họ như một kẻ v́ quá háo hức không thể đáp lại.

-   Người ta nói, gọi những hồn ma ban đêm. Ngồi quanh một bàn tṛn. Và những câu chuyện về những ngọn đèn di chuyển xung quanh toà nhà buổi tối. Họ nói, cô ấy đọc nhiều sách trinh thám. Trong sách nhiều sự kiện được vẽ ra - những ngôi sao, những ṿng tṛn. Nếu cô hỏi tôi, th́ đó là Amos Perry là một người không hoàn toàn ổn định.

-   Ông ta chỉ chấc phác thôi. Ông Copleigh dễ dăi nói.

-   Có thể về điều đó ông có lí. Nhưng một lần có một câu chuyện kể về ông ta. Thích làm vườn, nhưng không nhiều.

-   Dầu vậy đó chỉ là nửa căn nhà thôi, phải không? Tuppence nói. Bà Perry mời tôi vào rất tử tể.

-   Bà ấy làm thế à? Thật sao? Tôi không biết tôi có thích vô cái nhà ấy không nữa. Bà Copleigh nói.

-   Phần nhà của họ th́ ổn rồi. Ông Copleigh đáp.

-   C̣n phần kia có ổn không? Tuppence nói. Mặt tiền ngó ra con kênh ấy.

-   Hừm, thường có nhiều câu chuyện về nó đấy. Tất nhiên, trong nhiều năm không ai ở đó. Người ta bảo có nhiều chuyện ḱ dị về nó. Nhiều câu chuyện được kể lại. Nhưng khi cô đến đó, không có câu chuyện nào trong kí ức người ở đây. Cách đây lâu lắm rồi, khỏi phải nói. Nó được xây dựng cách đây trên một trăm năm. Người ta kể đầu tiên có một công nương tuyệt đẹp đến giữ chỗ đó, một trong những người qúy tộc tại triều đ́nh xây cho cô.

-   Triều đại Victoria? Tuppence hỏi với sự chú ư.

-   Tôi không nghĩ thuộc triều đại của bà. Bà Hoàng già là một người đặc biệt. Không, tôi nói là triều đại trước cơ. Một trong những người thuộc triều đ́nh vua George. Vị qúy tộc này thường xuống đây thăm công nương c̣n những câu chuyện th́ tiếp tục như là họ căi nhau và ông ta một đêm đă cắt cổ cô.

-   Kinh khủng quá! Họ treo cổ ông ta sao? Tuppence nói.

-   Không. Ô không, không có chi. Chuyện kể là, ông ta phải tẩy cái xác và xây tường bít lại phía trong ḷ sưởi.

-   Chôn cô ấy trong ḷ sưởi!

-   Người ta kể theo một số cách, người ta bảo cô ấy là một nứ tu và cô đă chạy trốn khỏi tu viện đó là lí do tại sao cô ấy bị xây tường bít lại. Người ta thường làm thế ở các tu viện.

-   Nhưng không phải những nữ tu sĩ  xây tường bít cô ta lại.

-   Không, không. Chính ông ta làm. Người t́nh của cô, cái kẻ đă tóm cổ cô. Ông ta xây gạch quanh ḷ sưởi, đóng đinh một tấm sắt lớn trên ḷ. Dù thế nào th́, không bao giờ trông thấy cô nữa, linh hồn khốn khổ, đi dạo quanh trong những bộ đồ dài đẹp nhất. Tất nhiên, một số người bảo rằng cô đi xa với ông ta. Ra đi sống tại thành phố hay trở về một nơi nào khác. Người ta thường nghe những tiếng động và trông thấy những ánh đèn trong  nhà, khi đêm xuống nhiều người không dám đến gần.

-   Nhưng chuyện ǵ xảy ra sau đó? Tuppence hỏi, cảm thấy đi lùi lại quá xa vào triều đại Nữ Hoàng Victoria h́nh như hơi quá sâu vào thời quá khứ so với những ǵ cô đang t́m kiếm.

-   Tôi không biết nhiều chuyện  ở đó. Một nông dân tên Blodgid tiếp nhận chỗ đó khi nó được đề cập đến chuyện bán, tôi tin thế. Ông ta cũng không ở lâu. Họ gọi đó là nông dân qúy tộc. Điều đó giải thích tại sao ông ta thích căn nhà, tôi cho là thế, nhưng đất nông trại không quen lắm với ông, và ông ta không biết giải quyết thế nào. Và thế lại bán lần nữa. Ngôi nhà bị đổi chủ quá nhiều lần -  những người xây dựng luôn đến theo và sứa sang lại - những pḥng tắm mới -  điều mơ hồ không giải thích được - có một lần, một cặp vợ chồng đă biến thành trại nuôi gà. Nhưng cô biết không, nó có một cái tên, v́ sự không may. Nhưng trước thời đại của tôi tất cả không đáng kể. Tôi tin ông Boscowan có một lần đă có ư định mua căn nhà đó. Đó là lúc ông ta vẽ ngôi nhà.

-   Khi xuống đây ông Boscowan bao nhiêu tuổi?

-   Bốn mươi, hay có thể lớn hơn một chút. Trong một chừng mức nào đấy đẹp trai. Tới mức hơi béo. Ông ta là một người vĩ đại đối với các cô gái.

-   A, ông Copleigh nói. Lần này là một tiếng lầm bầm báo hiệu.

-   Tất cả chúng tôi đều biết các nghệ sĩ giống nhau thế nào. Bà Copleigh nói, bao gồm Tuppence trong sự hiểu biết này. Qua Pháp nhiều lần, học cách của người Pháp, họ là thế đấy.

-   Ông ta không cưới vợ ư?

-   Khi đó ông ta chưa. Khi ông ta xuống đây cơ ông ta vẫn chưa có vợ. Ông ta say mê con gái bà Charrington, nhưng không có ǵ cả. Mặc dầu cô ta là một cô gái tuyệt đẹp, nhưng quá trẻ đối với ông. Cô ấy chưa tới haimươi lăm tuổi.

-   Bà Charrington là ai? Lời giới thiệu những nhân vật mới này làm Tuppence cảm thấy lúng túng.

-   Ḿnh làm cái qủy ǵ ở đây thế? Bất t́nh ĺnh cô nghĩ khi những làn sóng mệt mỏi chụp lên mặt cô - ta chỉ đang lắng nghe nhiều chuyện tầm phào về mọi người, và tưởng tượng những sự việc như chuyện sát nhân không có ǵ thật cả. Bây Giờ ta Mới hiểu -  chuyện khởi sự khi một con mèo ǵ xinh đẹp nhưng hết minh mẫn nhét một mớ hỗn độn trong đầu hồi tưởng lại những câu chuyện về ông Boscowan này, hay một kẻ nào khác giống ông ta tặng cho bà bức tranh, kể về ngôi nhà và những truyền thuyết xung quanh nó, về một người nào đó bị chôn sống trong một cái ḷ sưởi và v́ một lí do nào đó bà nghĩ rằng đó là một đứa trẻ. Và đến đây ta bắt đầu điều tra quanh một khám phá ḱ thú nhưng vô giá trị. Tommy bảo ḿnh là một đứa ngu, và anh ta hoàn toàn có lí -  ta Là một kẻ ngu.

Tuppence chờ đợi bà Copleigh cắt ngang ḍng thác đối thoại, để cô có thể đứng dậy, nói lời chúc ngủ ngon lịch sự và lên lầu ngủ.

Bà Copleigh vẫn c̣n say sưa hạnh phúc.

-   Bà Charrington? Bà sống một ít tại Watermead, bà và con gái bà. Bà Charrington là một phụ nữ qúy tộc xinh đẹp. Quả phụ một sĩ quan quân đội. Tôi tưởng thế. Túng tiền, mà căn nhà th́ đang cho thuê giá rẻ. Làm vườn nhiều. Bà rất thích việc làm vườn. Không thạo việc giữ nhà cửa cho sạch sẽ, bà ấy không làm được. Một hai lần tôi đến làm ơn cho bà, nhưng không thể  duy tŕ măi được. Tôi phải đi xe đạp, mà đường trên hai dặm. Dọc con đường đó không có xe búyt.

-   Nhưng bà ở đó có lâu không?

-   Không hơn hai ba năm, tôi nghĩ thế. Tôi cho rằng, bị khiếp sợ  sau khi những rắc rối xảy đến. Bà cũng có những mối lo riêng về cô con gái nữa, Lillian, tôi nghĩ đó là tên cô.

Tuppence uống một hơi tách trà đậm nhờ nó bữa ăn được tăng cường, t́m cách chấm dứt chuyện bà Charrington trước khi đi t́m sự nghỉ ngơi.

-   Bà ấy có mối lo ǵ về con gái? Ông Boscowan chăng?

-   Không, không phải ông Boscowan là người gây ra nỗi lo phiền. Tôi không bao giờ tin điều đó. Đó là một người khác.

-   Người kháclà ai? Tuppence hỏi. Một người khác họ sống ở đây à?

-   Tôi không nghĩ ông ta sống trong những miền này. Một người cô ta gặp ở London. Không biết có phải cô ta đến đó để học vũ ba lê không? Hay nghệ thuật? Ông Boscowan sắp xếp cho cô học một trường nào đó ở đó. Tôi nghĩ tên là Slate.

-   Slate? Tuppence gợi ư.

-   Có thể. Loại tên đó mà. Dù sao, cô ấy thường đến đó và đó là cách cô biết ông bạn, ông ấy là ai. Bà mẹ không thích chuyện ấy. Bà cấm cô gặp ông. Đúng như mong đợi điều ấy không ích lợi chút nào. Trong một chừng mức nạ đó bà là một phụ nữ điên. Giống như nhiều vợ của các sĩ quan quân đội thời đó. Bà ấy cho rằng các cô gái sẽ làm những ǵ họ được bảo làm. Trễ hơn thời gian quy định, cô ấy vâng lời. Sống tại Ấn độ và những miền đất này, nhưng khi đó là vấn đề của một chàng trẻ tuổi đẹp trai và bạn rời mắt khỏi cô con gái, bạn sẽ thấy con gái không làm những ǵ ḿnh bảo nó. Không phải cô ta. Ông ta thỉnh thoảng thường xuống đây và họ lại gặp nhau bên ngoài.

-   Và rồi cô vướng vào chuyện rắc rối, phải không? Tuppence nói, dùng lời nói khéo nổi danh, hi vọng dưới h́nh thức đó sẽ không làm tổn thương ư thức đạo đức của bà Copleigh.

-   Chắc phải là ông ta, tôi nghĩ vậy. Dẫu sao, điều ấy hiển nhiên. Tôi thấy chuyện đó kéo dài thế nào trước khi mẹ cô biết. Cô ta là con người đẹp. Cao tṛn lẳng và đẹp gái. Nhưng tôi không nghĩ cô ấy là hạng người có thể chịu đựng mọi sự. Cô ấy suy sụp, cô biết không. Cô thường đi lang thang bên ngoài như một kẻ dại, lẩm bẩm một ḿnh. Nếu cô hỏi ông ta xử tệ với cô ấy, th́ đúng thế. Đí xa và bỏ mặc cô ấy khi ông ta khám phá ra những ǵ đang xảy ra. Tất nhiên, một người mẹ như một người mẹ sẽ đi t́m hắn ta nói chuyện với hắn và khiến cho hắn hiểu phận sự của hắn nằm ở đâu, nhưng bà Charrington không có đủ tinh thần làm điều đó. Dù sao, bà mẹ đă khôn ngoan, bà đem con gái đi xa. Khóa cửa nhà lại, sau đó bà dựng bảng bán nhà. Họ trở về đóng gói đồ đạc, tôi tin thế, nhưng họ không bao giờ về làng hay nói chuyện với ai. Có một số câu chuyện đồn đăi quanh đây. Tôi không bao giờ biết có phần nào sự thật không.

-   Một số cư dân dựng lên chuyện ǵ đó. Ông Copleigh bất ngờ nói.

-   Tốt, anh có lí đó, George. Có lẽ chúng c̣n là sự thật. Những chuyện như thế vẫn xảy ra. Và như anh nói, cô gái ấy đối với tôi có cái đầu không thật ổn định lắm.

-   Chuyện ǵ nữa thế. Tuppence hỏi.

-   Thật ư, tôi không thích nói ra đâu. Từ đó là cả một thời gian dài và tôi không thích nói cái ǵ minh không chắc. Đó là cô Louise của Bà Badcok kẻ gây bối rối. Cô gái ấy là kẻ nói dối cực ḱ. Những chuyện cô ta nói. Bất cứ cái ǵ dựng nên một câu chuyện hay.

-   Mà chuyện ǵ cơ chứ?

-   Nói rằng cô con bà Charrington đă giết đứa trẻ rồi sau đó tự sát. Bảo rằng mẹ cô gần như hoá điên với nỗi buồn và bà con cô ấy nhốt cô ấy trong một nhà bảo dưỡng.

Một lần nữa Tuppence cảm thấy sự bối rối vọt lên trong đầu. Cô cảm thấy hầu như ḿnh đang lắc lư trong ghế tựa. Phải chăng bà Charrington là bà Lancaster? Đổi tên, hơi điên rồ rồi, ám ảnh bới vận mạng của con gái. Giọng nói của bà Copleigh tiếp tục không ngăn lại được.

-   Tôi chưa bao giờ tin một lời nào. Cô gái Badcok nói cái ǵ đó. Chúng tôi chưa bao giờ lắng nghe lời đồn đăi và những câu chuyện như vậy - chúng tôi có những việc khác để lo. Chúng tôi hăy c̣n sợ chết khiếp, trên khắp vùng quê bởi v́ những việc đă xảy ra -  những sự việc có thật - 

-   Tại sao? Những ǵ đang xảy ra? Tuppence hỏi, kinh ngạc trước những sự kiện h́nh như sắp xảy ra, đặt trọng tâm quanh ngôi làng nom thanh b́nh của Sutton Chancellor.

-   Tôi dám nói cô đă đọc tất cả về câu chuyện trong các báo vào thời đó. Xem nào, có thể gần hai mươi năm qua rồi. Chắc chắn cô có đọc về câu chuyện ấy. Tội giết trẻ em. Đầu tiên những em gái nhỏ cỡ chín tuổi. Một ngày sau buổi học không về nhà. Toàn thể vùng phụ cận đổ ra ngoài t́m kiếm. Cô bé được t́m thấy tại Dingley Copse. Cô bé bị treo cổ. Việc đó làm tôi rùng ḿnh mỗi lần nghĩ đến. Đó là tội ác đầu tiên, rồi ba tuần sau lại một tội ác nữa. Phía bên kia chợ Basing. Nhưng trong vùng phụ cận, như cô có thể nói. Một người đàn ông với một chiếc xe có thể làm điều đó dễ dàng.

-   Và rồi những tội ác khác. Đôi khi không tới một tháng hay hai. Tiếp lại một tội ác nữa. Từ đây không quá hai dặm. Dầu thế, hầu như ngay trong làng ḿnh.

-   Không có cảnh sát -  không có người nào biết kẻ nào đă gây ra sao?

-   Họ đă cố gắng khá vất vả rồi. Bà Copleigh đáp. Họ bắt giam giữ một người đàn ông ngay sau đó. Một người từ phía bên kia chợ Basing. Bảo ông ta đang giúp cảnh sát điều tra. Cô biết điều đó có nghĩ ǵ rồi. Họ nghĩ họ bắt được hắn ta. Đầu tiên họ lừa được một người rồi người khác nhưng luôn luôn sau hai mươi bốn tiếng đồng hồ hay họ phải thả hắn ta ra. Khám phá ra anh ta không thể làm điều đó hay không có trong những miền này hay một ai đó cho anh ta một chứng cớ ngoại phạm.

-   Bà không biết, Liz, ông Copleigh nói. Có thể họ đă biết rất rơ kẻ nào làm việc đó. Tôi dám cá họ Biết. Đó thường là cái hướng, hay tôi đă nghe thế. Cảnh sát biết người đó là ai nhưng họ không có bằng chứng.

-   Đó là những người vợ, người mẹ hay thậm chí những người cha. Ngay cả cảnh sát cũng không coi là hệ trọng cái điều họ có thể nghĩ ra. Một người mẹ nói’ tối qua thằng con tôi ăn tối ở đây” hay cô vợ trẻ nói đêm hôm đó cô đi coi phim với ông ta, và suốt thời gian đó ông ở với cô, hay một người cha nói ông và con trai ông ở ngoài trời trong cánh đồng xa làm một việc ǵ đó - bạn không thể làm chi để chống lại điều đó cả. Họ có thể nghĩ ông bố hay người mẹ hay t́nh nhân của ông ta nói dối, nhưng trừ phi một kẻ nào đó đến và khai anh ta thấy gă trai hay người đàn ông hay bất kể thứ ǵ trong một chỗ nào đó, họ không thể làm ǵ được. Đó là một giai đoạn kinh khủng. Tất cả chúng tôi quanh đây đều bồn chồn ngồi đứng không yên.

-   A, đúng vậy. Ông Copleigh nói.

-   Khi cùng nhau tụ tập họ đi ra ngoài kiếm t́m. Thỉnh thoảng họ t́m thấy ngay cô bé và đôi khi họ t́m kiếm hàng tuần. Đôi khi cô ta ở khá gần nhà trong một chỗ cô sẽ nghĩ chúng tôi chắc đă xem xét rồi. Tôi cho rằng chắc phải có ma thuật. Thật khủng khiếp. Bà Copleigh nói  giọng đạo đức, ‘ thật kinh khủng, có những bọn đàn ông như thế. Chúng đáng bị xử bắn. Chúng phải bị treo cổ. Và nếu người ta để tôi làm, tôi sẽ treo cổ chúng. Bất cứ bọn đàn ông nào giết và tấn công trẻ em. Cách tốt nhất là đem nhốt chúng vào một  nhà thương điên và đối xử chúng với sự dịu dàng cùng mọi tiện nghi gia đ́nh. Rồi sớm hay muộn họ lại cho chúng ra ngoài, bảo rằng chúng đă được chữa trị và đưa chúng về nhà. Điều này xảy ra nơi nào đó tại Norfold. Chị tôi sống ở đó và chị kể cho tôi nghe chuyện này. Hắn trở về nhà và hai ngày sau hắn gây vụ khác. Những ông bác sĩ này, họ điên cả rồi, một vài người trong bọn họ, bảo hắn ta được chữa lành rồi trong khi chúng chưa lành.

-   Và bà chưa có ư tưởng về ai đă xuống đây? Tuppence nói. Bà có nghĩ thật sự đó là một người ngoại quốc không?

-   Với chúng tôi có lẽ là một người nước ngoài. Nhưng chắc chắn phải là một kẻ sống trong vùng - Ồ! Tôi nói tầm xe đi được hai dặm xung quanh. Trong ngôi làng này nó không thể ở đây được.

-   Bà luôn nghĩ như vậy, Liz.

-   Ông bồn chồn ngồi đứng không yên, bà Copleigh nói. Ông nghĩ chắc hắn ở đây trong miền phụ cận của ông bởi v́ ông sợ hăi, tôi tưởng thế. Tôi thường xem xét mọi người. Ông cũng vậy, George. Ông sẽ tự bảo ḿnh rằng tôi ngạc nhiên nếu có thể người bạn Kia ở đây, sau cùng h́nh như hắn khá ḱ dị. Không b́nh thường.

-   Tôi không giả thiết hắn ta thật sự có vẻ ḱ quái ǵ hết. Tuppence nói. Có thể hắn trông giống hệt mọi người khác.

-   Đúng vậy, có khả năng cô kiếm được một cái ǵ đó ở đây. Tôi đă nghe họ nói cái điều cô không biết đâu, và bất kể người nào h́nh như chưa bao giờ mắc chứng điên khùng ǵ cả, c̣n những người khác nói trong mắt bọn chúng luôn luôn có những cái nh́n trừng trừng giận dữ  khủng khiếp.

-   Jeffreys, ông là Trung uư cảnh sát ở đây, ông Copleigh nói, ông luôn thường nói rằng ông ta có một ư kiến hay nhưng không có ǵ để làm cả.

-    Họ không bao giờ bắt gă sao?

-   Không. Trên sáu tháng, gần một năm. Toàn thể sự việc ngưng lại. Từ đó không có ǵ xảy ra quanh đây nữa. Không, tôi nghĩ hắn chắc trốn đi rồi. Cùng đi xa với nhau. Đó là cái điều làm mọi người nghĩ có thể họ biết hắn là ai.

-   Bà muốn nói v́ dân chúng mà hắn Thật sự rời khỏi khu vực à?

-   Tất nhiên cái ấy khiến người ta nói vậy, khỏi phải nói. Họ nói có thể là một người nào đó.

Tupence lưỡng lự định hỏi câu kế tiếp, nhưng cô cảm thấy với đam mê tṛ chuyện của bà Copleigh điều này không cần thiết.

- Bà nghĩ đó là ai? Cô hỏi.

-   Cách đây khá lâu tôi khó mà muốn nói ra. Nhưng có những cái tên được nhắc đến. Cô biết không, nói đến và xem xét. Một số tên như có lẽ là ông Boscowan.

-   Thật sao?

-   Phải, là một nghệ sĩ, và tất cả nghệ sĩ đều ḱ quặc. Họ nói thế. Nhưng tôi không nghĩ đó là ông.

-   Nhiều người nói là Amos Perry, ông Copleigh lại xen vào.

-   Chồng bà Perry ư? 

-   Phải. Lăo ấy hơi ḱ dị, đầu óc ngớ ngẩn. Ông ta là loại người có thể làm điều đó.

-   Gia đ́nh Perry sống ở đây à?

-   Không. Không phải tại Watermead. Họ có một túp lều cách đây chừng bốn năm dặm. Cảnh sát trông chừng họ, tôi bảo đảm.

-   Không thế kiếm được ǵ từ lăo ấy đâu. Bà Copleigh nói. Vợ ông luôn luôn nói về ông. Buổi tối ở nhà với bà. Bà ấy nói thế, luôn luôn. Chỉ thỉnh thoảng đến quán rượu vào tối thứ bảy, v́ vậy trong chuyện này không có ǵ. vả lại, Alice Perry là loại người bạn tin cậy khi bà ấy cho chứng cứ. Bà ấy không bao giờ giảm bớt cường độ hay chùn lại. Bạn không thể sợ hăi bà ấy là một người trong bọn chúng. Dù sao, Lăo ấy không phải là tội phạm. Tôi không bao giờ nghĩ vậy. Tôi biết tôi không có ǵ để tiếp tục nhưng tôi có cảm tưởng rằng nếu tôi phải điểm mặt chỉ tên một người nào đó ra th́ tôi phải đánh cá vào Sir Phillip.

-   Sir Phillip? Đầu Tuppence một lần nữa choáng váng. Một nhân vật khác nữa chưa được giới thiệu. Sir Phillip. Phillip là ai? Cô hỏi.

-   Phillip Starke -  tận hưởng cuộc sống trong nhà Warrender. Thường được gọi là Cổ tu viện khi gia đ́nh Warrender ở đó -  trước khi nó cháy rụi. Cô có thể thấy những ngôi mộ nhà Warrender trong sân nhà thờ và những tấm bảng đề tên trong nhà thờ nữa. Thực tế gia đ́nh Warrender luôn ở đây từ thời vua James.

-   Sir Phillip Starke bà con với gia đ́nh Warrender à?

-   Không. Kiếm tiền bằng những phương tiện lớn, tôi tin vậy, hay cha ông ta làm vậy. Nhà máy thép hay cái ǵ như thế. Phillip là loại đàn ông ḱ dị. Công việc th́ đâu đó về hướng bắc, c̣n ông ta ở đây. Ông ta không giao thiệp. Cái mà người ta gọi là một sự phục hồi lại -  phục hồi lại -  cáí ǵ.

-   Người sống ẩn dật. Tuppence gợi ư.

-   Đó là từ tôi đang t́m kiếm. Ông ta xanh xao, cô biết không, người gầy ốm đầy xương và rất thích hoa. Ông là nhà thực vật học. Thường sưu tầm các loại hoa dại nhỏ như trẻ con, loại hoa cô không  nh́n đến hai lần. Ông ta thậm chí có viết một cuốn sách về chúng, tôi tin thế. Vâng, ông ta thông minh, rất thông minh. Vợ ông là một công nương dễ thương, và rất đẹp, nhưng trông buồn lắm. Tôi luôn luôn nghĩ thế.

Ông Copleigh thốt một tiếng hự. ‘Bà ngốc, ông nói. Lại nghĩ chuyện đó có thể là sir Philllip. Sir Phillip là người yêu trẻ con. Cho chúng trứng gà -  tất cả dâu tây và bữa ăn gồm trà, bánh nướng, mứt trái cây, kem đặc. Ông không có con, cô hiểu chứ. Thường ông ta chận chúng lại trong một đường hẹp và cho chúng kẹo và một đồng sáu xu để mua kẹo. Nhưng tôi không hiểu. Tôi nghĩ ông ta lạm dung điều đó. Ông ta là một người đàn ông ḱ dị. Tôi nghĩ có một cái ǵ đó sai lầm khi vợ ông bất ngờ nhanh chóng bỏ ông mà đi.

-   Vợ ông ta bỏ đi khi nào?

-   Sau tất cả chuyện rắc rối này chừng sáu tháng. Kế đó ba đứa trẻ bị giết. Phu nhân Starke th́nh ĺnh đi xa về ḿền bắc nước Pháp không bao giờ trở về. Bà ấy không phải là hạng người làm việc đó, cô sẽ nói thế. Bà ấy là một công nương trầm tĩnh, đáng kính. Không có vẻ như là bà từ bỏ ông v́ một người đàn ông khác. Không, bà không phải là hạng người làm được việc ấy. Thế Tại Sao bà nhanh chóng từ bỏ ông? Tôi luôn luôn nói bởi v́ bà ấy biết một cái ǵ đó -  khám phá ra một điều ǵ đó -  

-   Ông ta c̣n ở đây không?

-   Không thường xuyên. Một năm ông ta xuống đây một hai lần nhưng ngôi nhà lúc nào cũng đóng cửa với một quản gia. Cô Bligh trong làng -  cô ấy vẫn là thư kí của ông -  cô trông coi mọi việc cho ông.

-   Và vợ ông?

Bà ấy chết rồi, công nương tội nghiệp. Chết ngay sau khi đi ngoại quốc. Trong  nhà thờ có một tấm bảng dựng cho cô. Nó sẽ là điều khủng khiếp cho cô. Có lẽ lần đầu cô không chắc, rồi có lẽ cô bắt đầu nghi ngờ chồng, rồi có lẽ cô đi tới chỗ hoàn toàn chắc chắn. Cô không thể chịu nổi điều đó và cô đi xa.

-   Những chuyện bọn đàn bà tưởng tượng ra. Ông Copleigh nói.

-   Tất cả điều tôi có thể nói là Có một Cái ǵ Đó không đúng về sir Phillip. Ông ta quá yêu trẻ, tôi nghĩ thế, và đó không phải là một thiên hướng b́nh thường.

-   Tưởng tượng của bọn đàn bà. Ông Copleigh nói.

Bà Copleigh đứng dậy và bắt đầu  mang đồ đạc khỏi bàn.

-   Về giờ giấc, chồng bà nói, bà sẽ cho qúy bà này những ác mộng nếu bà cứ tiếp tục những câu chuyện cách đây nhiều năm.

-   Nghe rất thích thú, Tuppence nói. Nhưng tôi buồn ngủ quá rồi, tôi nghĩ tốt hơn ḿnh nên đi ngủ bây giờ.

-   Tốt, chúng tôi thường đi ngủ sớm. Bà Copleigh nói. Và cô sẽ mệt sau ngày dài trải qua đấy.

-   Tôi mệt. Tôi buồn ngủ kinh khủng. Tuppence ngáp dài. Chúc ngủ ngon và cám ơn bà rất nhiều.

-   Cô có cần tôi gọi dậy với một tách trà buổi sáng không? 8 giờ đúng có quá sớm cho cô không?

-   Không, tốt thôi. Tuppence đáp. Nhưng xin đừng lo nếu việc ấy gây phiền cho bà.

-   Không phiền ǵ cả. Bà Copleigh nói.

Tuppence mệt nhọc lê ḿnh đến giường. Cô mở va li, lấy ra vài thứ cần dùng, cởi bỏ áo quần, tắm rửa rồi thả rơi ḿnh xuống giường. Những ǵ cô nói với bà Copleigh là sự thật. Cô mệt lử. Những sự kiện cô được nghe đi qua trí óc như những h́nh người di động trong cái kính vạn hoa và tất cả những tưởng tượng khủng khiếp. Những đứa trẻ chết - quá nhiều trẻ chết. Tuppence chỉ cần một đứa trẻ chết sau ḷ sưởi. Có lẽ cái ḷ sưởi phải liên can đến Waterside. Con búp bê của đứa bé. Một đứa trẻ bị giết bởi một cô gái trẻ giận điên lên bởi người yêu bỏ rơi đă lái khỏi cô bộ óc khá là yếu đuối của ḿnh. Ô tôi thân mến, tôi đang dùng thứ ngôn ngữ thật là bi kịch kia. Tất cả là một đống hỗn độn - bảng liệt kê theo thứ tự thời gian đảo lộn - rồi sau đó người ta không thể chắc cái ǵ xảy tới.

Cô đi ngủ và nằm mơ. Có một công nương Shalott nào đó nh́n ra ngoài cửa sổ toà nhà. Có tiếng cào rạch đang đến từ ống khói. Từ sau tấm chắn bằng sắt bị đóng đinh vào ḷ sưởi vọng lại những cú đánh. Âm vang của một chiếc ŕu kêu vang rền. Clang, clang, clang. Tuppence thức giấc. Bà Copleigh đang gơ trên cánh cửa. Bà nhanh nhẹn bước vào, đặt khay trà xuống cạnh giường Tuppence, kéo màn cửa, hi vọng Tuppence ngủ ngon. Không ai trông vui vẻ hơn bà Copleigh, Tuppence nghĩ, bà ta không có những cơn ác mộng!

 

                      


MỘT BUỔI SÁNG TẠI CHỢ BASING

 

Tất cả tốt đẹp, bà Copleigh, khi bà nhảy ra khỏi pḥng. Ngày khác. Đó là những ǵ tôi luôn nói khi thức dậy.

Ngày khác. Tuppence nghĩ, nhấp chén trà đen đậm. Ḿnh tự hỏi ḿnh có đang tự biến ḿnh một kẻ ngu không?... có thể lắm... ta ước Tommy ở đây để nói chuyện. Tối qua làm ta mụ đi.

Trước khi rời pḥng, Tuppence ghi vào sổ ghi chép từng đoạn ngắn từng sự kiện từng tên gọi khác nhau cô đă nghe tối hôm trước, mà lúc lên giường cô quá mệt không làm được. Những câu chuyện mang tính bi kịch mê lô, của quá khứ, có lẽ hàm chứa những hạt giống sự thật đây đó nhưng hầu như chỉ là nghe lóm, chuyện tầm phào, ác ư, tính tưởng tượng lăng mạn.

“Thật sự, Tuppence nghĩ, ḿnh đang bắt đầu hiểu đời sống t́nh yêu của một số lượng người bước lùi vào thế kỉ mười tám, ḿnh nghĩ thế. Nhưng tất cả lên tới cái ǵ đây? Và ḿnh đang t́m kiếm cái ǵ? thậm chí ḿnh không biết nữa. Việc khủng khiếp nhất là ḿnh đă vướng vào và ḿnh không thể lùi được nữa.

Có một mối nghi ngờ sắc bén rằng việc đầu tiên cô có thể gặp rắc rối là cô Bligh, người mà Tuppence nhận ra như là mối hăm dọa toàn thể Sutton Chancelor, cô tránh né tất cả những hiến tặng giúp đỡ bằng cách lái xe thật nhanh quá bưu điện chợ Basing, chỉ ngưng lại một chốc, khi chiếc xe bị cô Bligh với những tiếng kêu lanh lảnh đường đột đến bắt chuyện, để giải thích với qúy cô kia rằng cô đang có một cuộc họp gấp... khi nào th́ cô trở về? Tuppence mơ hồ -  cô sẽ ăn trưa chứ? -  cô Bligh rất tử tế, nhưng Tuppence sợ hăi -   

“Trà, được. 4g30 tôi sẽ đợi cô.” Đó hầu như là một Mệnh lệnh Hoàng gia.

Tuppence mỉm cười, gật đầu, khởi động máy cho xe chạy.

Có khả năng, Tuppence nghĩ - từ những đại lí nhà tại chợ Basing, nếu cô kiếm được bất cứ cái ǵ đáng chú ư -  Nellie Bligh có thể cung cấp thêm thông tin có ích. Cô ta là loại phụ nữ tự kiêu về chuyện hiểu rơ mọi người ở đây. Khó khăn bất ngờ là cô quyết định biết rơ tất cả về Tuppence. Có thể vào buổi trưa này một lần nữa Tuppence sẽ hồi phục lại khả năng bịa đặt của ḿnh!

“ Hăy nhớ lại bà Blenkinsop,” Tuppence nói, thận trọng ṿng quanh một khúc cua ngặt và ép vào một hàng rào để tránh bị một chiếc xe tải to như con ḅ mộng thích đùa thủ tiêu.

Đến chợ Basing cô đậu xe vào khu đỗ xe chính, đi vào bưu điện và bước vào một pḥng điện thoại c̣n trống.

Giọng Albert trả lời -  dùng lối đáp thông thường của anh ta -  một tiếng độc nhất “ hallo” thốt ra nghi ngờ.

-   Nghe đây, Albert -  tôi sẽ về nhà ngày mai. Đúng giờ ăn trưa - có lẽ sớm hơn. Ông Beresfold cũng về nữa, trừ phi ông ấy gọi điện. Cho chúng tôi món ǵ đó -  gà nhé, tôi nghĩ thế.

-   Rơ, thưa bà. Bà ở đâu - Nhưng Tuppence đă tắt máy.

Cuộc sống của chợ Basing dường như đặt trọng tâm tại khu quan trọng nhất của nó -  Tuppence đă tham khảo một tự điển cũ trước khi rời bưu điện và ba nhà trong số bốn nhà và những đại lí nhà đất có vị trí trong khu vực - nhà thứ tư ngự trên đường George.

Tuppence viết tháu những cái tên rồi ra ngoài t́m.

Cô bắt đầu với nhà Messrs. Lovebody và Slicker rơ ràng là uy  nghi nhất.

Một cô gái với những vết nám tiếp cô.

-   Tôi muốn hỏi về một căn nhà.

Cô gái nhận tin này không chút chú ư. Có lẽ Tuppence đang hỏi về một số động vật quư hiếm nào đó.

-   Tôi không biết, tôi bảo đảm, cô gái đáp, nh́n quanh xem có một đồng nghiệp nào cô có thể traoTuppence lại không - 

-   Một căn nhà, Tuppence nói. Cô là nhân viên đại lí nhà, phải không?

-   Đại lí nhà và bán đấu giá. Nhà bán đấu giá Cranberry mở cửa ngày thứ tư nếu đó là cái cô quan tâm, hai silling một bảng danh mục.

-   Tôi không lưu tâm chuyện bán đấu giá. Tôi muốn hỏi về một căn nhà.

-   Có đồ đạc?

-   Không đồ đạc. Để mua - hay bán.

Những nốt chấm sáng lên một chút.

-   Tôi nghĩ tốt hơn cô nên gặp ông Slicker.

Tuppence mạnh mẽ ủng hộ việc gặp gỡ ông Slicker và ngay sau đó ở trong một văn pḥng nhỏ cô đối diện với một người đàn ông mặc bộ đồ vải túyt ca rô có in h́nh ngựa, ông ta bắt đầu lật ra một con số lớn những địa chỉ đăng kí đặc biệt đáng ao ước - th́ thầm những lời b́nh luận ...‘ 8 Mandeville Road - kiến trúc sư xây, ba pḥng, bếp Mỹ - ồ không, cái đó qua rồi - Nhà mướn Amabel - địa chỉ có khung cảnh, bốn mẫu - bán nhanh giảm bớt giá - 

Tuppence ngắt lời ông ta mạnh mẽ: ‘ tôi đă thấy một căn nhà quay về hướng tôi thích -  tại Sutton Chancellor - hay hơn nữa, gần Sutton Chancellor - bên một con kênh -   ‘

-   Sutton Chancellor, ông Sliker có vẻ nghi ngờ - tôi nghĩ hiện tại trong hồ sơ chúng tôi không có bất động sản nào ở đó cả.

Dường như không có bảng tên nào - có thể là Watersider. Rivermead - có một lần được gọi là ngôi nhà bên cầu. Tôi hiểu, Tuppence nói, căn nhà chia hai phần. Một nửa cho thuê nhưng những người thuê nhà không thể nói cho tôi biết về nửa kia, nửa quay ra con kênh và là nửa nhà tôi thích. Rơ ràng  chỗ chưa có ai thuê.

Ông Slicker lập tức nói rằng ông e là ông không thể giúp cô được, nhưng hạ cố cung cấp thông tin nhà Messrs. Blodget và Burgess có thể làm được điều đó. Dựa vào âm giọng đó, vị thư kí h́nh như ám chỉ nhà Messrrs. Blodget và Burgess là một hăng rất thấp kém.

Tuppence đổi tuyến đường đến nhà Messr. Blodget và Burgess phía đối diện quảng trường - và bất động sản được đề cập đến của họ rất giống với bất động sản của nhà Messrs. Lovebody và Slicker - trong những cửa sổ bám đầy cáu bẩn của họ cùng loại những hoá đơn bán và những cuộc bán đấu giá sẵn có nếu cần. Mặt tiền vừa mới được sơn lại nhiều màu lục khác nhau rực rỡ hơn, nếu được coi như là một hành động có khen thưởng.

Những sắp xếp tiếp nhận th́ không khích lệ tương đương, Tuppence được chuyển qua ông Sprig, một ông già tâm t́nh rơ ràng chán nản. Một lần nữa Tuppence thuật lại những nhu cầu của ḿnh và những điều kiện cần thiết.

Ông Sprig chấp nhận nhận thức về địa chỉ đăng kí hiện tại, nhưng không hi vọng, hay h́nh như tới một điểm nào đó, được quan tâm lắm.

-  Tôi e là căn nhà đó không ở tại chơ. Người chủ nhà không muốn bán.

-   Chủ nhà là ai?

-   Thật ra tôi không biết rơ. Nó thường xuyên đổi chủ -  một lúc nào đó có tin đồn về một đơn đặt hàng bắt buộc.

-   Chính quyền địa phương cần nó với mục đích ǵ?

-   Thật sự, bà - è -( ông ta liếc nh́n tên Tuppence ghi nguyệch ngoạc trong tờ giấy thấm lớn của ḿnh) - bà Beresford, nếu bà có thể trả lời được cho tôi câu hỏi này bà sẽ là người khôn hơn những vật tế thần gây ấn tượng nhất là những ngày này. Cách của hội đồng địa phương và việc lập kế hoạch xă hội luôn che phủ trong ṿng bí mật. Phần hậu ngôi nhà có một số sữa chữa cần thiết và được cho thuê một giá cực ḱ rẻ - è - à vâng, một ông và bà Perry. Phần liên quan đến người chủ thực tế của bất động sản, vị qúy tộc trong vấn đề sống ở nước ngoài  h́nh như hết quan tâm đến nó. Tôi tưởng có một số vấn đề về sự kế thừa ít quan trọng, và được những cố vấn pháp luật điều hành. Một số khó khăn nhỏ về luật pháp dựng lên - luật pháp thiên về tốn kém, bà Beresford - tôi tưởng người chủ hoàn toàn bằng ḷng việc căn nhà sụp đổ - không thực hiện sửa chữa nào ngoại trừ phần gia đ́nh Perry ở. Tất nhiên, trên thực tế đất đai sẽ có giá trị hơn trong tương lai - việc sửa chữa những ngôi nhà bỏ hoang ít khi thích hợp. Nếu bà quan tâm đến một bất động sản loại đó, tôi bảo đảm tôi có thể cung cấp cho bà một số bất động sản có giá trị hơn cái của bà. Nếu tôi có thể hỏi, trong khu đất đó có cái ǵ đặc biệt lôi cuốn bà thế?

-   Tôi thích dáng vẻ bên ngoài của nó, Tuppence nói. Đó là một ngôi nhà rất Đẹp -  tôi nh́n thấy nó đầu tiên từ chuyến tàu - 

-   Tôi hiểu -ông Sprig ghi dấu nhanh nhất một cảm tưởng ông có thể có’ sự ngu ngốc của đàn bà không thể tin được’ - và mềm mỏng nói,’ tôi sẽ thật sự quên tất cả về nó nếu tôi là bà.’

-   Tôi cho rằng bà có thể hỏi ngừơi chủ nếu họ chuẩn bị bán - hay nếu bà cho tôi địa chỉ của họ - hay của ông ta -  

-   Chúng tôi sẽ liên hệ với những cố vấn pháp luật của những chủ nhà nếu bà đ̣i hỏi -  nhưng tôi không thể đưa ra nhiều hi vọng lắm đâu.

-   Tôi cho rằng người ta phải thông qua các cố vấn pháp luật về mọi sự ngày hôm nay. Tuppence nghe âm vang vừa ngu  ngốc vừa cáu kỉnh... và luật sư th́ luôn luôn làm Chậm trễ mọi việc -  

-   A vâng - luật pháp th́ sinh sôi nảy nở nhiều sự tŕ hoăn -  

-   Và Ngân hàng cũng vậy - thật tồi tệ!

-   Ngân hàng - Ông Sprig hơi giật ḿnh.

-   Quá nhiều người cho bạn một Địa chỉ ngân hàng. Điều này cũng mệt nữa.

-   Phải - phải - như cô nói - nhưng ngày nay người ta hiếu động quá và xê dịch quá nhiều -  sống ở ngoại quốc và vậy đó. Ông mở một ngăn kéo bàn giấy. Nào. Tôi có một bất động sẳn ở đây, Crossgates - hai dặm từ chợ Basing - điều kiện rất tốt -  vườn đẹp. - 

Tuppence đứng lên.

-   Không cám ơn.

Cô quả quyết chào tạm biệt ông Sprig rồi bước ra ngoài quảng trường.

Cô viếng thăm nhanh toà nhà thứ ba dường như là chỗ chính thức bán ḅ sữa, nông trại nuôi gà và đại để những nông trại trong t́nh trạng bỏ hoang.

Cô thăm lần cuối cùng nhà Messr. Robert và Wiley tại đường George - h́nh như là một sở nhỏ nhưng công việc túi bụi, do đ̣i hỏi của luật pháp mà bắt buộc phải lo -  nhưng nói chung không thú vị và không biết rơ Sutton Chancellor và lo bán những nơi cư trú chỉ mới xây một nửa với giá tiền rất đắt ḱ dị - một bức minh họa của một chỗ khiến Tuppence rùn vai. Người đàn ông trẻ thấy khách hàng có thể đi ra , bèn chấp nhận không sẵn ḷng lắm sự hiện hữu của một nơi như Sutton Chancellor.

-   Cô nhắc đến Sutton Chancellor. Tốt hơn nên thử hỏi nhà Blodget và Burgess tại khu vực. Họ nắm giữ một số động sản trong tay xung quanh -  nhưng tất cả đều ở trong t́nh trạng rât nghèo nàn -  sụp đổ - 

-   Có một ngôi nhà tuyệt đẹp gần đó, bên một chiếc cầu qua con kênh -  tôi thấy nó từ chuyến tàu. Tại sao không ai muốn sống ở đó?

-   Ô! Tôi biết chỗ ấy, đây - bờ sông -  cô sẽ không kiếm được ai ở đó - nó nổi danh là ngôi nhà bị ma ám.

-   Ông muốn nói - có ma?

-   Người ta nói vậy - nhiều câu chuyện về nó. Tiếng ồn ban đêm. Và tiếng rên rỉ. Nếu cô hỏi tôi, đó là tiếng con mọt nghiến.

-   Chao ôi, Tuppence nói. Đối với tôi nó có vẻ đẹp và hiu quạnh.

-   Đa số mọi người sẽ nói chỗ ấy quá hiu quạnh chứ sao. Ngập lụt vào mùa đông -  hăy nghĩ đến điều ấy.                                                                                            

-   Tôi thấy có nhiều chuyện để nghĩ. Tuppence cay đắng nói.

Cô lẩm bẩm khi lê chân về quán Con Thỏ và Lá Cờ nơi cô định tăng cường bữa ăn trưa cho ḿnh.

‘ Nhiều chuyện để nghĩ - lụt, con mọt nghiến, ma, tiếng xích sắt vang rền, sự vắng mặt những chủ nhà và chủ đất, những cố vấn pháp luật, những ngân hàng - một căn nhà không ai cần hay yêu thích - có lẽ ngoại trừ Ta - ồ, cái ta muốn bây giờ là Thức Ăn.

Thức ăn tại Con Thỏ và Lá Cờ ngon và nhiều - món ăn thịnh soạn dành cho nông dân hơn là thực đơn giả tạo của Pháp dành cho du khách đi qua - súp đặc khai vị, chân heo với nước sốt táo, phó mát Stilton -  mận và bánh kem sữa nếu bạn thích -  mà Tuppence không - 

Sau một chuyến dạo quanh rời rạc, Tuppence trở lại xe hơi và lái về Sutton Chancellor - không thế cảm thấy rằng buối sáng của ḿnh có kết quả.

Khi cô trở lại góc cuối cùng và nhà thờ Sutton Chancellor hiện ra trong tầm mắt, Tuppence thấy dạng cha xứ nổi lên trong sân nhà thờ. Ông bước đi rất chậm. Tuppence lái đến gần ông.

-   Cha vẫn đang c̣n t́m nấm mộ đó à? Cô hỏi.

Cha cố đặt một bàn tay lên cái lưng gầy g̣.

-   Chao ơi, ông nói, mắt cha không tốt lắm. Quá nhiều lời đề bia bị tẩy xóa. Lưng cha cũng làm cha đau. Quá nhiều đá bia nằm liệt trên đất. Thật sự, khi cha cúi xuống, cha có cảm giác ḿnh không bao giờ đứng lên được nữa.

-   Con cũng không làm chuyện ấy nữa, Tuppence nói. Nếu cha nhin vào bảng đăng kí của giáo xứ và chí có vậy, cha đă làm tất cả việc cần làm.

-   Cha hiểu, nhưng ông bạn khốn khổ dường như quá mong mỏi, quá tha thiết. Cha hoàn toàn tin chắc rằng tất cả chỉ là lao động phí thời gian thôi. Tuy nhiên, cha thật sự cảm thấy đó là nhiệm vụ của ḿnh. Cha c̣n một khoảng ngắn nữa cha chưa t́m, tứ cây thông đỏ bên kia đến bức tường đằng xa - mặc dù dù hầu hết bia mộ đều vào thế kỉ mười tám. Nhưng cha vẫn thích cái cảm giác cha đă làm xong nhiệm vụ của ḿnh một cách rốt ráo. Cha không thể tự ḿnh đến gần được. Tuy vậy, cha sẽ để lại đến ngày mai.

-   Hoàn toàn có lí. Tuppence nói. Cha không nên làm quá nhiều việc trong một ngày, con bảo cha nhé, cô thêm vào. Sau khi con uống trà với cô Bligh xong, con sẽ đi và tự con sẽ xem xét. Từ cây thông đỏ đến bức tường, cha nói thế phải không?

-   Nhưng cha không thể đ̣i hỏi khả thể đó nơi con -  

-   Chuyện đó ổn thôi. Con hoàn toàn thích làm. Con nghĩ lảng vảng quanh sân nhà thờ rất thú vị. Cha biết mà, những chữ khắc cổ cho ta một  bức tranh của người ở đây và tất cả mọi điều không giải thích được. Con sẽ hoàn toàn tận hưởng điều đó, con sẽ thích thật mà. Hăy trở về và nghỉ ngơi đi cha.

-   Dĩ nhiên rồi, chiều nay cha thật ra phải làm cái ǵ đó về bài thuyết giáo của ḿnh. Con là một người bạn rất tốt bung. Cha tin chắc thế. Một người bạn Rất tử tế.

Ông cười tươi với cô rồi đi vào nhà của cha xứ. Tuppence liếc nh́n đồng hồ tay. Cô dừng lại cạnh nhà cô Bligh. ‘Cũng nên có ư định khắc phục’, Tuppence nghĩ. Cánh cửa trước mở cô Bligh vừa mang một dĩa bánh x-côn mới nướng băng qua tiền sảnh vào pḥng khách.

-   Ô! Bà đây rồi, bà Beresford thân mến. Tôi rẩt vui được gặp bà. Trà sẵn sàng rồi. Âm nước đang bắc. Tôi chỉ mới bỏ trà. Tôi hi vọng bà mua sắm đủ thứ bà muốn. Cô thêm vào, lưu ư nh́n chứng cớ trống rỗng một cách đau đớn trong cái bị mua sắm trên cánh tay của Tuppence .

-   Thật sự tôi không có nhiều vận may, Tuppence nói, khoác một bộ mặt lương thiện khi cần. Cô biết đấy - chỉ thỉnh thoảng thôi - trúng cái ngày người ta không t́m được màu sắc hay đồ vật đặc biệt ḿnh cần. Nhưng tôi luôn luôn tận hưởng cái thú tham quan một nơi mới lạ thậm chí dù nó không thú vị ǵ.

Tiếng c̣i một ấm nước phát ra tiếng rít the thé đ̣i hỏi sự chú ư và cô Bligh ném ḿnh trở vào bếp để theo dơi, rải một bộ thư đang chờ gởi bưu điện trên cái bàn pḥng đợi.

Tuppence khom ḿnh nhặt lên, khi cô đặt chúng trên bàn chú ư trên đỉnh một b́ thư đề địa chỉ gởi một bà Yorke, Nhà Rosetrellis dành cho Quư bà Có Tuổi - gởi đến một địa chỉ ở Cumberland.

“Thật sự, Tuppence nghĩ, ḿnh bắt đầu cảm thấy toàn xứ này không có ǵ ngoài những Nhà Dưỡng lăo! Tin chắc không lâu nữa Tommy và ḿnh sẽ ở trong một nhà!”

Chỉ có ngày kia, một số người bạn tử tế và hữu ích đă viết thư giới thiệu một chỗ rất dễ chịu tại Devon - những đôi vợ chồng - hầu hết là công chức nghỉ hưu. Nấu ăn tuyệt hảo - Bạn mua đồ đạc riêng và đồ đạc cá nhân.

Cô Bligh tái xuất hiện với b́nh trà và hai người ngồi uống trà.

Cuộc nói chuyện với cô Bligh th́ bản chất ít kịch tính và sôi nổi hơn cuộc nói chuyện với bà Copleigh, liên can nhiều đến việc kiếm thông tin hơn là cung cấp.

Tuppence được báo mơ hồ về những năm quá khứ của việc phục vụ ở ngọai quốc - khó khăn cuộc sống gia đ́nh tại nước Anh, cung cấp những chi tiết của một đứa con trai và đứa con gái đă có chồng vợ với những đứa con và nhẹ nhàng hướng câu chuyện về những hoạt động của cô Bligh tại Sutton Chancellor rất nhiều - Hội Phụ Nữ , Hướng Dẫn Viên, Hướng Đạo Sinh, Hội Bảo Vệ Phụ nữ, Thuyết Giảng, Nghệ Thuật Hy Lạp, Làm JamBông, Dạy Cắm Hoa, Câu Lạc Kịch, Hội Ai hữu Khảo cổ học - sức khoẻ của cha cố, sự cần thiết làm cho ông tự săn sóc sức khỏe bản thân, sự đăng trí của ông - bất hạnh là những ư kiến khác biệt của các cha tổng quản -  

Tuppence khen ngợi bánh xcôn, cám ơn tính hiếu khách của cô chủ và đứng dật từ giă.

-   Nghị lực của cô thật tuyệt vời, cô Bligh, làm thế nào cô giải quyết được tất cả chuyện này thế, tôi không tưởng tượng nổi. Tôi phải thú nhận rằng sau một ngày du ngoạn và mua sắm, tôi chỉ muốn nghỉ ngơi một chút trên giường - chỉ nửa giờ hay nằm khép mắt cũng vậy - một chiếc giường rất tiện nghi. Tôi phải cám ơn cô rất nhiều đă giới thiệu tôi với bà Copleigh. - 

-   Một phụ nữ đáng tin cậy nhất, dù tất nhiên bà ta nói rất nhiều - 

-   Ô! Tôi thấy tất cả những câu chuyện địa phương của bà đều làm cho người ta vui.

-   Phân nửa thời gian bà ta không biết ḿnh nói ǵ! cô c̣n ở lại đây bao lâu?

-   Ô không - ngày mai tôi sẽ về nhà. Tôi thất vọng không t́m được một bất động sản nhỏ nào -  tôi đă hi vọng ngôi nhà bên con kênh khung cảnh tuyệt đẹp ấy - 

-   Tốt hơn bà không mua nó. Nó đang trong t́nh trạng sửa chữa tồi. Vắng chủ đất - đó là một nỗi nhục. 

-   Thậm chí tôi không biết ngôi nhà thuộc về ai. Tôi hi vọng Cô hiểu. H́nh như cô hiểu rơ mọi việc ở đây.

-   Tôi chưa bao giờ chú ư đến ngôi nhà đó. Nó đổi chủ luôn - người ta không thể theo kịp. Gia đ́nh Perry ở một nửa căn - căn kia lâm vào t́nh trạng suy sụp và sụp đổ.

Tuppence nói lời tạm biệt và lái trở về nhà bà Copleigh. Căn nhà rơ ràng yên tĩnh và trống trải. Tuppence lên pḥng ngủ, đặt cái bị mua hàng trống rỗng xuống, rửa mặt và thoa phấn vào mũi. Lại nhón gót ra khỏi nhà, nh́n ngược xuôi đường phố, rời chỗ để xe, cô đi ṿng nhanh qua góc phố, sử dụng lối đi dành cho người đi bộ xuyên qua cánh đồng phía sau làng, ngẫu nhiên lối đi ấy dẫn đến cái bậc trèo qua tường để vào sân nhà thờ.

Tuppen trèo lên bậc cửa vào sân nhà thờ, mặt trời chiều thật thanh b́nh, và bắt đầu khảo sát tấm bia mộ như cô đă hứa. Thật ra cô không có động cơ kín đáo nào khi làm vậy. Cô không hi vọng có ǵ để khám phá ở đây. Về phía cô thật sự chỉ là ḷng tử tế. Cha cố già hơi điếc, và cô muốn ông cảm thấy rằng lương tâm của ông được thỏa măn hoàn toàn. Cô đă mua cuốn sổ với cây bút trong trường hợp có ǵ đáng chú ư cô sẽ ghi cho ông. Cô tin chắc cô chỉ t́m kiếm một bia mộ có lẽ được dựng lên để tưởng niệm cái chết của một số trẻ em ở lứa tuổi được quy định. Đa số những nấm mộ ở đây đều thuộc về thời cổ. Chúng không đáng chú ư lắm, nó không đủ cổ xưa để thu hút hay tác động đến hay chăm sóc những gịng chữ khắc. Đa số hoàn toàn là mộ của những người già. Tuy vậy cô cũng lần lữa một chút khi đi qua, vẽ những phác hoạ tinh thần trong trí. Fane Elwood, ra đi 6 tháng giêng. William Marl, ra đi 5 tháng giêng, ḷng thương tiếc sâu sắc. Mary Treves, năm tuổi. 14 tháng ba 1835. Điều đó đi lùi quá xa. ‘ Niềm vui trọn vẹn trong hiện tại’. Mary Treves thật là may mắn.

Bây giờ cô hầu như đă đến bức tường đằng xa. Ở đây những nấm mộ bị quên lăng và cỏ mọc đầy, h́nh như không ai chăm lo mảnh nghĩa địa này. Nhiều ḥn đá không c̣n đứng thẳng mà nằm dài trên mặt đất. Bức tường ở đây bị tàn phá và vỡ vụn ra từng mảnh. Có những chỗ nó bị sụp xuống.

Đứng thẳng phía sau nhà thờ, từ ngoài đường lộ không thể nh́n thấy -  chắc chắn bọn trẻ đến đây có thể làm công việc phá hoại. Tuppence cúi xuống trên những phiến đá -  những chữ gốc bị hỏng nặng không thể đọc được - nhưng dùng hết sức ḿnh dựng lên một phía, Tuppence đọc thấy những chữ cái và những từ ḅ ngoằn ngoèo, cũng bởi cỏ mọc lấn từng phần.

Cô cúi xuống dùng ngón trỏ ḍ từng chữ, và rải rác kiếm được một từ -  

Người nào mà...  xúc phạm đến... một trong những ngôi mộ nhỏ này...

Millstone... Millstone... Millstone... và phía dưới -  được khắc không bằng phẳng bởi một bàn tay tài tử:

                          Nới đây an nghỉ Lily Waters.

Tuppence hít một hơi thở sâu -  cô ư thức có một bóng đen sau cô, nhưng trước khi cô có thể quay đầu lại -  một vật ǵ đó đánh vào sau đầu và cô té xuống trên mộ chí trong bóng tối và sự đâu đớn.

v     

TẬP 3

 

                                          MỘT NGƯỜI VỢ MẤT TÍCH

                                  

                                   10.       Một cuộc hội kiến -   và sau đó

 

‘Beresfold. Ngài Thiếu Tướng Josiah Penn, K.M. G., Liên Đoàn công nghiệp Anh, Huân Chương Công Vụ, nói với trọng lượng ḍng chữ đầy ấn tượng kèm sau tên anh. ‘ anh nghĩ ǵ về những cái râu ria này?’

Tommy hiểu câu hỏi của ông già Josh đó, khi sau lưng anh ông nói kiểu thiếu nể trọng, không bị ấn tượng về hệ quả của cuộc hội nghị họ đă tham dự.

-   Tṛ chơi trốn t́m dịu nhẹ, nhẹ nhàng thôi, Sir Josiah nói, tiếp tục với những câu hỏi. Nhiều cuộc nói chuyện và không có ǵ nói cả. Thỉnh thoảng nếu có ai đó nói cái ǵ đó nhạy cảm, khoảng bốn giây đậu đứng lên la ó phản đối liền. Tôi không hiểu tại sao chúng ta bắt đầu những việc này. Ít ra, tôi thật sự biết. Tôi biết tại sao tôi làm vậy. Không có ǵ khác phải làm. Nếu tôi không đến những cuộc tŕnh diễn này, tôi phải ở nhà. Anh có biết cái ǵ xảy ra với tôi ở đó không? Tôi bị khủng bố. Bị khủng bố bởi người quản gia, bị khủng bố bởi người làm vườn. Ông ta là một người Scot già và thậm chí ông ta cũng không để tôi đụng đến món lê. V́ vậy tôi đến đây, ném tung sức mạnh của ḿnh đi và tôi c̣n đóng kịch với ḿnh rằng tôi đang bảo vệ cho nền an ninh của xứ xở này! Vớ vẩn.

-   C̣n anh? Anh là một người đàn ông khá trẻ. Anh đến và phung phí th́ giờ của ḿnh v́ cái ǵ? Không ai lắng nghe anh, dù cho anh có nói cái ǵ đáng lắng nghe.

Tommy, niềm vui thoáng qua mặc dù tuổi tác, như anh vẫn cho ḿnh khôn trước tuổi, nay theo lời Ngài Thiếu Tướng Josiah Penn anh có thể được coi như là một thanh niên, lắc đầu.

-   Nếu ngài không có mặt ở đây sẽ không có chuyện ǵ được giải quyết, thưa ngài.

-   Tôi cũng nghĩ thế. Vị Thiếu tướng nói. Tôi là một con chó bun không răng -  nhưng tôi c̣n có thể sủa. Bà Tommy thế nào rồi? Đă lâu không gặp bà ấy.

Tommy đáp Tuppence vẫn khỏe và linh hoạt.

-   Cô ấy lúc nào cũng linh hoạt cả. Cô ấy đôi khi làm tôi nghĩ đến một con rồng bay. Luôn lao vọt như tên bắn sau một số ư tưởng chừng như phi lí của cô ta rồi chúng tôi khám phá ra nó chẳng vô lí chút nào. Thật không tưởng tượng được! Thiếu tướng nói vẻ phấn khởi. Không giống như những phụ nữ trung niên nghiêm nghị anh bạn gặp ngày nay đâu, tất cả có một Nguyên do với một chữ C chính. Về phía các cô gái ngày nay - ông lắc đầu. Không như cái họ là khi tôi c̣n trai trẻ. Họ thường là, đẹp như một bức tranh. Những vạt áo muslin! Những chiếc mũ chụp H́nh chuông, họ thường mang một lúc nào đó. Phải nh́n xuống bên dưới cái li ttrước khi bạn có thể nh́n thấy khuôn mặt của cô gái. Chiếc mũ để nhử mồi, và họ Biết điều đó! Bây giờ tôi nhứ lại - để tôi xem nào - cô là một người bà con của anh - có phái cô ấy là d́ anh không? - d́ Ada. Ada Fanshawe

-   D́ Ada?

-   Cô gái đẹp nhất tôi từng biết.

Tommy t́m cách kềm chế sự ngạc nhiên dâng lên trong ông. Cái d́ Ada ấy lại được coi như là đẹp thật vượt quá sức tưởng tượng. Ông già Josh đang lưỡng lự.

-   Phải, đẹp như một bức tranh. Sung sức nữa! Vui vẻ! Khách hàng thường xuyên trêu cợt. A, tôi nhớ lại lần cuối cùng tôi gặp bà. Tôi là một sĩ quan cấp uư vừa rời khỏi India. Chúng tôi đang dự  cuộc chơi ngoài trời vào một đêm trăng tṛn trên băi biển... cô ấy và tôi lang thang cùng nhau và ngồi trên một tảng đá nh́n ra biển.

Tommy  chăm chú nh́n kĩ ông ta. Với cái cằm đôi, cái trán hói, lông mày dày rậm và cái bụng phệ khổng lồ. Anh  nghĩ đến d́ Ada, đến bộ râu mép mới mọc, nụ cười lạnh lùng, mái tóc xám sắt, cái liếc nh́n ác ư của bà. Thời gian, ông nghĩ. Thời gian đă tác hại lên con người! Anh thử h́nh dung một sĩ quan cấp uư trẻ đẹp trai với một thiếu nữ đẹp dưới ánh trăng. Anh thất bại.

-   Lăng mạn. Ngài Josiah Penn nói với tiếng thở dài sâu. À vâng, lăng mạn. Tôi muốn cầu hôn cô ta tối hôm đó, nhưng anh không thể cầu hôn nếu anh là một sĩ quan dưới cấp bậc đại uư. Không hợp chỉ số lương của bạn. Chúng tôi đă phải đợi năm năm trước khi chúng tôi cưới nhau.  Không thể yêu cầu bất cứ thiếu nữ nào chấp thuận một cuộc đính hôn quá dài như vậy. A vâng! Anh đă biết sự việc xảy ra như thế nào rồi. Tôi đến India và đó là một thời gian dài trước khi tôi về nhà để từ giă. Chúng tôi viết thư cho nhau một chút, rồi sự việc giảm lần. Như chuyện thường vẫn xảy ra, không bao giờ tôi c̣n gặp cô ấy nữa. Tuy nhiên, anh biết đấy, tôi không bao giờ quên cô. Mặc dầu thường xuyên nghĩ đến cô, tôi nhớ tôi hầu như chỉ viết cho cô một lần, những năm sau này. Khi tôi đang c̣n lưu lại với vài người tôi nghe cô đang ở trong vùng phụ cận. Tôi nghĩ tôi sẽ tới gặp cô, như tôi có thể cho là thế. Rồi tôi lại nghĩ ‘ thôi đừng là một gă ngốc nữa. Đến bây giờ có lẽ cô ta trông hoàn toàn khác xưa th́ sao.’

Sau này tôi nghe được một người bạn nhắc đến cô. Bảo tôi anh ta chưa bao giờ thấy một phụ nữ xấu đến thế. Tôi khó mà tin được điều ấy khi tôi nghe anh ta nói vậy, nhưng bây giờ tôi nghĩ có lẽ không bao giờ gặp lại cô nữa là điều may mắn cho tôi. Cô đang làm ǵ bây giờ? C̣n sống không?

- Không. Thật sự bà ấy đă chết cách đây hai hoặc ba tuần. Tommy đáp.

-   Thật thế ư, cô ấy thật chết rồi sao? Phải, tôi tưởng rằng đúng vậy -  cho tới bây giờ, bà ấy chắc đă 75 hay 76 rồi? Có lẽ già hơn nữa.

-   D́ ấy 80 tuổi. Tommy nói.

-   Không thể tưởng tượng được. Ada sống động tóc đen. Cô ta chết ở đâu? Có phải cô sống trong một nhà điều dưỡng hay sống với một người bạn đồng hành -  cô ta không bao giờ cưới chồng, phải vậy không?

-   Không, Tommy nói. D́ ấy không bao giờ kết hôn. D́ sống trong nhà dành cho những người già. Một chỗ khá đẹp, thật thế. Sunny Ridge là tên nó.

-   Ư, tôi cũng có nghe về ngôi nhà đó. Sunny Rigde. Một người mà chị tôi biết sống ở đó, tôi tin vậy. Một bà - bây giờ tên ǵ nhỉ - một bà Carstairs? Anh có t́nh cờ gặp bà ấy bao giờ chưa?

-   Không. Tôi không ngẫu nhiên gặp bất cứ ai ở đó cả. Người ta chỉ thường đến viếng thăm một người bà con đặc biệt của họ thôi.

-   Công việc cũng khó khăn nữa. Tommy nói. D́ ấy là một người nóng tính, ông biết mà.

-   Hi vọng cô ấy là thế. Thiếu Tướng huưt gió. Khi c̣n là con gái khi cô ta muốn cô ta có thể là một con qủy nhỏ chính quy đấy.

Ông thở dài.

-   Công việc đáng nguyền rủa, khiến người ta trở nên già. Một trong những người bạn của chị tôi thường có những tưởng tượng, sinh linh già nua khốn khổ. Thường bảo bà đă giết một ai đó.

-   Chúa ơi, Tommy nói. Bà ấy có giết thật à?

-   Không, tôi không cho là thế. Dường như không ai nghĩ bà ấy đă giết người. Tôi cho là vậy. Thiếu Tướng nói, trầm ngâm khảo sát lại ư tưởng ấy. Anh biết mà, tôi tin Có Thể bà ta đă giết người. Nếu anh quá vui vẻ đi mà nói những việc như thế, không ai Sẽ tin anh đâu, phải không? mặc dù rất thú vị, phải không?

-   Bà nghĩ bà đă giết ai nào?

-   Nếu tôi biết th́ đă phước. Có lẽ người chồng chăng? Không biết ông ta là ai hay ông như thế nào. Lần đầu chúng tôi biết bà là một quả phụ. Ông thêm vào với một tiếng thở dài. Rất tiếc nghe về d́ Ada. Không đọc tin trong báo. Nếu đọc được tôi đă mua hoa. Một bó hoa hồng hay hoa ǵ đó. Loại hoa con gái thường mang trên bộ đồ dạ hội của họ. Một bó những nụ hồng đính trên vai một chiếc áo dài dạ hội. Rất đẹp. Tôi nhớ lại d́ Ada có một bộ đồ dạ hội -  có phần màu hoa cẩm tú cầu, tím nhạt. Màu tím xanh và cô mang trên vai nụ hồng. Một lần cô có cho tôi một nụ. Dĩ nhiên, chúng không thật. Nghệ thuật thôi. Tôi giữ nó một thời gian dài - hàng năm. Tôi biết. Ông thêm vào, bắt gặp ánh mắt Tommy. Làm anh cười khi nghĩ đến. Tôi bảo anh này, gă trai của tôi ạ, khi anh thật sự già và hay Cười như tôi này, một lần nữa anh nhạy cảm cho coi. Tôi cho là tốt hơn ḿnh nên ra về và trở lại hoạt động nghệ thuật của màn tŕnh diễn ḱ khôi này. Khi anh về nhà gởi lời thăm tận t́nh đến bà T. giùm tôi.

Trong chuyến xe lửa ngày hôm sau, Tommy hồi tưởng lại cuộc nói chuyện này, mỉm cười thử h́nh dung lại bức tranh bà d́ đáng gờm của ḿnh và vị Thiếu Tướng dữ dằn trong thời son trẻ của họ.

-   Ḿnh phải bảo Tuppence chuyện này mới được. Nó làm cô cười mất, Tommy nói. Ḿnh tự hỏi Tuppence đang làm ǵ trong khi ḿnh đi xa đây?

Anh mỉm cười một ḿnh.

 

                                                                 2

 

Anh chàng Albert trung thành mở cửa với một nụ cười rạng rỡ.

-   Vui mừng được găp lại ông, thưa ông.

-   Tao cũng vui được trở về - Tommy giao cái va li nhỏ của ḿnh - bà Beresford đâu?

-   Chưa về, thưa ông.

-   Mày muốn nói bà đi xa sao?

-   Đi ba bốn ngày rồi. Nhưng bà sẽ trở về ăn tối. Bà gọi điện ngày hôm qua nói thế.

-   Bà ấy đi đâu, Albert?

-   Con không thể nói, thưa ông. Bà ấy dùng xe hơi, nhưng lại đem theo nhiều bảng hướng dẫn đường sắt. Có lẽ bà ở đâu đó, như ông có thể đoán.

-   Thật ra tao có thể, Tommy nói với một linh cảm. John’s Groats - hay Mũi Đất - và có lẽ quên điểm nối tại Little Dither trên đầm lầy trên đường trở về. Chúa ban phước cho Đường Sắt Anh quốc. Mày nói, cô gọi điện báo hôm qua. Cô có nói cô gọi từ chỗ nào không?

-   Cô không nói.

-   Hôm qua vào giờ này sao?

-   Sáng hôm qua. Trước bữa trưa. Chỉ nói mọi việc ổn cả. Cô không hoàn toàn chắc mấy giờ th́ đến nhà, nhưng cô nghĩ cô sẽ về nhà trước bữa ăn tối và gợi ư một con gà. Cái đó th́ ông đồng ư, phải không, thưa ông?

-   Phải, Tommy nói, nh́n đồng hồ tay, nhưng bây giờ cô phải thực hiện cho thật nhanh chứ.

-   Con đi bắt gà đây, Albert nói.

Tommy cười. Ôn thôi, anh nói. Bắt nó đằng đuôi đấy. Mày thế nào, Albert? Ở nhà mạnh khỏe cả chứ?

-   Có sợ chứng lên sởi - nhưng ổn rồi. Bác sĩ nói đó chỉ là đám mụn nhỏ như hạt đậu trên da.

-   Tốt, Tommy nói. Anh đi lên lầu, huưt sáo một điệu. Anh vào pḥng tắm, cạo râu rửa mặt, từ đó rảo bước vào pḥng ngủ và nh́n quanh. Nó có cái vẻ ḱ dị của một số pḥng không người ở khoác lên khi người chủ vắng bóng. Bầu không khí lạnh lẽo và xa lạ. Mọi vật ngăn nắp hết sức tỉ mỉ và sạch sẽ hết sức tỉ mỉ. Tommy có cảm giác thất vọng mà một con chó trung thành có thể có. Nh́n quanh ḿnh, anh nghĩ như là Tuppence chưa bao giờ có mặt cả. Không có bột phấn chảy tràn ra, không có sách ném mở với cái gáy xoè ra.

-   Thưa ông.

Đó là Albert, đang đứng trong lề cửa.

-   Cái ǵ?

-   Con đang lo về con gà.

-   Qủy tha ma bắt con gà,Tommy nói. H́nh như con gà ngự trị trong óc mày vậy.

-   Con bắt nó để ông và cô không muộn hơn 8 giờ. Không trễ quá 8 giờ, con muốn nói ngồi vào bàn đấy.

-   Tao đáng lẽ phải nghĩ đến điều ấy, Tommy nói, nh́n đồng hồ tay lần nữa. Chúa ơi, gần 9 giờ kém 25 rồi.

-   Phải, thưa ông. Và con gà - 

-   Nói tiếp đi, mày lấy con gà ra khỏi ḷ nướng và tao với mày sẽ ăn nó. Phục vụ Tuppence đủ rồi. Thật ra là trở về ngay trước bữa tối mới phải!

-   Dĩ nhiên một số người ăn tối muộn, Albert trả lời. Con có đi Tây ban Nha một lần rồi và tin con đi, ông không thể có một bữa ăn  trước 10 giờ đúng. 10 giờ buổi chiều cơ đấy. Con xin ông! người ngoại đạo!

-   Được rồi, Tommy nói, vẻ lơ đăng. Nhân tiện nói luôn, mày không có ư kiến việc cô ở đâu vào lúc này à?

-   Ông muốn nói bà chủ? Con không biết, thưa ông. Con dám nói, đang vội đi gấp. Ư tưởng đầu tiên của cô là đến nhiều nơi bằng xe lửa, theo như con có thể chứng minh được. Cô luôn luôn t́m trong bảng chữ cái và bảng thời gian biểu và những vật khác.

-   Tốt, Tommy nói, tất cả chúng ta đều có cách làm cho ḿnh vui, tao tin thế. H́nh như cô ấy du lịch bằng đường rầy xe lửa. Cũng thế thôi tao tự hỏi cô ở đâu. Ngồi trong Pḥng đợi của Qúy bà tại Little Dither trên Marsh, rất có khả năng.

-   Dù vậy cô biết ông đang về nhà hôm nay, có phải không thưa ông? Cô sẽ về đây. Con bảo đảm.

Tommy nhận ra rằng anh được tặng ḷng trung thành. Anh và Albert cùng liên kết phản đối Tuppence cô đang thử nghiệm hệ thống đường rầy xe lửa Anh Quốc trong một thời gian ngắn và quên trở về nhà đúng hẹn để chào đón chồng đang trở về.

Albert quay đi để tháo con gà khỏi khả năng số phận bị hoả táng trong ḷ.

Tommy định đi theo anh ta, rồi dừng lại nh́n về phía cái giá trên ḷ sưởi. Anh chậm bước lại quan sát bức tranh treo trên đó. Không thể tin được, cô quá tin chắc rằng việc ḿnh đă thấy ngôi nhà đặc biệt đó trước đây. Tommy cảm thấy khá chắc chắn là anh không hề thấy nó. Dẫu sao, đó là một ngôi nhà khá b́nh thường. Chắc phải có nhiều nhà như thế.

Anh vươn tay ra tới mức có thể đụng vào bức tranh, không c̣n có thể được một cái nh́n tốt hơn, tháo nó ra và đặt sát ngọn đèn để bàn. Một ngôi nhà yên tĩnh, thanh b́nh. Có chữ kí người vẽ bên dưới. Tên bắt đầu với một chữ B dù ông không hiểu chính xác tên ǵ. Bosworth - Bouchier - anh kiếm một cái gương phóng lớn và quan sát kĩ hơn. Một điệu nhạc chuông vui vẻ vọng lại từ tiền sảnh. Albert đă chứng tỏ cao độ những cái chuông phát ra nhạc họ mua về lúc này hay lúc khác từ Grindelwald. Anh ta là một ca sĩ thượng thặng về điều đó. Buổi tối đă dọn. Tommy đến pḥng ăn. Thật ḱ cục, anh nghĩ, đến bây giờ mà Tuppence vẫn chưa xuất hiện. Dù cô có bị thủng lốp xe, mà h́nh như có thể lắm, anh hơi ngạc nhiên tại sao cô không gọi điện để giải thích hay xin lỗi việc trễ muộn của ḿnh chứ.

‘ cô có thể biết ḿnh đang lo,’ Tommy nói một ḿnh. Không, dĩ nhiên rồi, anh đă từng Thật lo - không phải về Tuppence. Tuppence luôn luôn ổn, Albert phản bác lại trạng thái này.

-   Hi vọng cô không bị tai nạn, anh ta lưu ư, tŕnh trước Tommy một dĩa cải bắp, và lắc đầu buồn bă.

-   Đem đi. Mày biết tao không ưa ăn cải bắp.Tại sao lại phải có một tai nạn? Bây giờ chỉ mới 9g30 thôi.

-   Bây giờ trên đường lộ việc giết người rơ ràng. Bất  cứ ai cũng có thể gặp tai nạn hết.

Chuông điện thoại reo.“ Cô ấy đấy,” Albert nói. Vội vă đặt dĩa cải bắp trên tủ chén, anh vội ra khỏi pḥng. Tommy đứng lên, bỏ mặc dĩa thịt gà, đi theo Albert. Anh vừa cất tiêng’ đây, tôi nghe’ th́ Albert nói.

-   Vâng, thưa ông? vâng, ông Beresfold có nhà. Ông ấy đây ạ. Anh quay đầu lại Tommy. Có một bác sĩ Murray đợi ông, thưa ông.

-   Bác sĩ Murray? Tommy nghĩ ngợi một chốc. Cái tên h́nh như thân thiện nhưng trong giây lát anh không thể nhớ Dr. Murray là ai. Nếu Tuppence bị tai nạn - rồi với tiếng thở dài nhẹ nhơm anh nhớ lại Dr. Murray là bác sĩ chuyên chăm sóc người già tại Sunny Rigde. Có lẽ, có cái ǵ đó liên can đến những h́nh thức lễ tang của d́ Ada. Là đứa trẻ thật sự ở vào tuổi minh, Tommy ngay lập tức tin chắc rằng hẳn là vấn đề của h́nh thức này hay h́nh thức khác- một cái ǵ anh đă kí nhận, hoặc Dr. Murray phải kí nhận.

-   Xin chào, ông nói, Beresfold nghe đây.

-   Tôi vui bắt được anh. Tôi hi vọng anh nhớ tôi chứ. Tôi chăm sóc d́ anh, cô Fanshawe.

-   Tất nhiên tôi nhớ. Tôi có thể làm ǵ giúp?

-   Thật sự tôi cần trao đổi vài lời với anh một lúc nào đó. Tôi không biết chúng ta có thể sắp sếp một cuộc gặp gỡ được không, có lẽ một hôm nào đó trong thành phố?

-   Tôi mong thế, vâng. Hoàn toàn dễ thôi. Nhưng - è - è - cái ǵ đó ông không thể nói qua điện thoại được sao?

-   Tôi không thích nói qua điện thoại. Không vội ngay được. Tôi không nói láo là có nhưng - nhưng tôi muốn có một buổi chuyện gẫu với anh.

-   Không có ǵ sai lầm chứ? Tommy nói, và tự hỏi tại sao anh lại hỏi cách đó? Tại sao có cái ǵ sai lầm?

-   Thật sự th́ không. Có lẽ tôi đă quan trọng hoá vấn đề. Có thể. Nhưng có những bành trướng hơi ḱ lạ tại Sunny Ridge.

-   Không có ǵ liên can đến bà Lancaster chứ?

-   Bà Lancaster? Vị bác sĩ h́nh như ngạc nhiên. Ô không. Bà ấy rời khỏi đây cách đây một thời gian. Thật sự, trước khi d́ anh mất. Đây là một chuyện hoàn toàn khác.

-   Tôi vừa mới đi xa - thật sự mới trở về. Sáng mai tôi sẽ điện cho ông - rồi chúng ta có thể xếp đặt được.

-   Được. Tôi sẽ cho anh số điện thoại của tôi. Tôi sẽ ở pḥng mổ của tôi đến 9 g sáng.

-   Tin xấu à? Albert hỏi Tommy khi trở lại pḥng ăn.

-   V́ Chúa, đừng nói ồm ồm thế, Albert. Tommy cáu kỉnh. Không - dĩ nhiên không phải tin xấu.

-   Tôi nghĩ có lẽ là cô chủ. 

-   Cô ấy ổn thôi, cô luôn như vậy. Có lẽ ba chân bốn cẳng chạy theo đầu mối một cuộc đ́nh công hay cái khác - mày hiểu cô thích cái chi mà. Tao sẽ không lo nữa. Đem dĩa gà đi - mày cứ giữ nó nóng trong ḷ và không dùng để ăn được. Mang cho tao ít cà phê. Rồi tao sẽ đi ngủ.

Có lẽ mai sẽ có một lá thư. Tŕ hoăn trong bưu điện - mày biết bưu điện chúng ta như thế nào - hay sẽ có một cái điện tín - hay cô sẽ gọi điện.

Nhưng ngày kế không có thư - không có điện thoại - không điện tín.

Albert mở to mắt nh́n Tommy, nhiều lần mở miệng rồi ngậm lại, phán đoán khá hợp lí rằng những dự báo bi quan của anh sẽ không được chào đón.

Cuối cùng Albert thương hại anh ta. Anh nuốt một miệng đầy bánh nướng và mứt, cho nó trôi xuống cổ với cà phê, và nói -

-   Được rồi. Albert, tao nói trước đây - Cô Ở Đâu? Chuyện ǵ xảy ra với cô? Chúng ta sẽ làm ǵ với điều này?

-   Đến cảnh sát, thưa ông?

-   Tao không chắc. Mày thấy đấy - Tommy ngưng bặt.

-   Nếu cô bị tai nạn - 

-   Cô có mang theo bằng lái xe - và nhiều giấy tờ tuỳ thân - bệnh viện rất nhanh trong việc tường thuật lại những chuyện như thế - lập tức tiếp xúc với thân nhân - chỉ có vậy. Tao không muốn thúc đẩy nhanh điều xấu - cô - cô không muốn. Mày không có ư kiến ǵ - không ư kiến ǵ hết, Albert, cô đi đâu - cô không nói ǵ sao? Không có chỗ - hay miền đặc biệt. Không  nhắc đến một số tên?

Albert lắc đầu.

-   Cô ấy có cảm giác như  thế nào? Vui? Kích động? Bất hạnh? Lo âu?

Câu trả lời của Albert đến ngay lập tức.

-   Rất vui mừng - nổ tung với nó.

-   Giống như một con chó nhỏ nhảy ra khỏi đường ray, Tommy nói.

-   Đúng thế, thưa ông - ông biết cô kiếm được như thế nào -

-   Về một cái ǵ - bây giờ tao tự hỏi - Tommy ngưng lại suy nghĩ.

Một cái ǵ đó đă xảy ra, và, như anh vừa nói với Albert, Tuppence nhảy bổ ra ngoài như một con chó nhỏ trong khung cảnh. Ngày trước hôm qua cô điện thoại báo tin sẽ trở về. Tại sao cô không trở về? Vào phút này, có lẽ, Tommy nghĩ, cô đang ngồi một nơi nào đó nói dối với mọi người quá thật cho đến nỗi cô không nghĩ đến chuyện ǵ khác!

Nếu cô gia tăng việc theo đuổi, cô sẽ cực độ bị phiền phức nếu anh, Tommy, lao bổ đến cảnh sát than văn như một con cừu chuyện vợ ḿnh đă mất tích - Anh có thể nghe Tuppence đang nói’ làm sao anh có thể quá ngu ngốc khi làm một việc như thế được! Tự em có thể săn sóc ḿnh một cách Hoàn Hảo mà. Lần này anh phải biết điều đó!( Nhưng cô có thể tự chăm sóc ḿnh không?)

Người ta không bao giờ  hoàn toàn bảo đảm óc tưởng tượng của Tuppence có thể đưa cô đến đâu.

Vào Hiểm Nguy chăng? Rơ ràng, không có bất cứ chứng cớ hiểm nguy nào trong công việc này cả - ngoài trừ, như đă nói trước, trong óc tưởng tượng của Tuppence.

Nếu anh đến cảnh sát, nói vợ anh không về nhà khi cô loan báo cô sắp về - cảnh sát sẽ ngồi đó, trông lịch sự mặc dù có thể bên trong họ cười, và rồi tin chắc, vẫn c̣n cung cách lịch sự, hỏi cô có những người bạn trai nào!

-   Ḿnh sẽ t́m cô ấy’ Tommy tuyên bố. Cô ấy ở Nơi nào đó. Như là hướng nam, bắc, đông hay tây tao không có ư kiến - và cô là con gà điên không nói một lời khi gọi điện, là cô ở đâu.

-   Một băng nhóm đă bắt cóc cô, có lẽ thế -  Albert nói.

-   Ô, đừng nói chuyện trẻ con, Albert, mày vẫn không chịu trưởng thành sau từng ấy năm à!

-   Ông định làm ǵ, thưa ông?

-   Tao sẽ đi London, Tommy nói, liếc nh́n đồng hồ. Đầu tiên tao sẽ ăn trưa tại câu lạc bộ với Dr. Murray người gọi điện cho tao tối qua, và người có cái ǵ đó để nói với tao về những việc có liên can đến cái chết của bà d́ sau này - có lẽ tao sẽ kiếm được một ám chỉ có ích từ ông ấy - sau rốt, công việc này khởi sự tại Sunny Ridge. Tao cũng mang theo bức tranh treo trên giá trong pḥng ngủ theo với tao.

-   Ông muốn nói ông mang nó đến Scotland Yard?

-   Không, Tommy đáp, tao mang nó đến đường Bond.

v     

       

ĐƯỜNG BOND VÀ MURRAY

 

Tommy nhảy ra khỏi taxi, trả tiền và ngiêng người vào buồng lái để lấy ra một cái gói được gói vụng về rơ ràng là một bức tranh. Nhét gọn chừng nào tốt chừng nấy dưới cánh tay, anh bước vào Galleries New Athenian, một trong những toà nhà trưng bày tranh lâu nhất và cổ nhất tại London.

Tommy không phải là một khách hàng lớn của nghệ thuật nhưng anh phải đến New Athenian bởi v́ anh có một người bạn làm việc ở đó.

‘ Thi hành nhiệm vụ’ chỉ là cái từ để dùng bởi sự quan tâm t́nh cảm, giọng nói ít người biết, nụ cười vui vẻ, tất cả dường như mang tính giáo sĩ cao độ.

Một người đàn ông trẻ tóc vàng lách ḿnh ra tiến tới, khuôn mặt ông ta bừng sáng lên với nụ cười tiếp nhận.

-   Chào Tommy, anh nói. Lâu lắm không gặp anh. Anh kẹp cái ǵ dưới nách thế? Đừng bảo tôi anh đang bắt đầu thấy thấy thích tranh sơn dầu vào tuổi anh nhé? Nhiều người thế rồi - hậu quả thường đáng tiếc.

-   Tôi nghi ngờ nếu như sáng tạo nghệ thuật từng là hành động hoàn toàn theo ư muốn của tôi, Tommy nói. Mặc dù tôi phải chấp nhận một ngày nọ tôi tự khám phá ra sức lôi cuốn mạnh mẽ từ một cuốn sách nhỏ nói về những giai đoạn thuần phác nhất của một đứa trẻ lên năm tuổi làm thế nào nó có thể học được cách pha màu nước.

-   Chúa phù hộ chúng ta nếu anh sắp bắt đầu yêu mến nó. Ngược lại với bà ngoại Moses.

-   Nói thật với anh, Robert, tôi chỉ muốn thức tỉnh lănh vực chuyên môn của anh về tranh. Tôi cần anh cho ư kiến về bức họa này.

Khéo léo Robert đỡ lấy bức hoạ từ tay Tommy và tinh xảo tháo gỡ những giấy gói vụng về với tính chuyên nghiệp của một người đă quen với việc giải quyết tháo và gói lại những công tŕnh nghệ thuật đủ mọi kích cỡ.

-   Tốt, anh nói, thế nào? Anh muốn biết về cái ǵ? anh muốn bán tranh à, phải vậy không?

-   Không, Tommy đáp, tôi không muốn bán nó, Robert. Tôi muốn biết về nó. Bắt đầu, tôi muốn biết ai đă vẽ nó.

-   Thật ra, Robert đáp, nếu anh Đă muốn bán, ngày nay hoàn toàn có thể bán được. Cách đây mười năm th́ không. Nhưng Boscowan lại đang hợp thời trang lần nữa.

-   Boscowan? Tommy nh́n ông ḍ hỏi. Đó có phải là tên nhà nghệ sĩ? Tôi thấy nó được kí với chữ B đầu nhưng tôi không đọc được cái tên thật.

-   Đó là Boscowan rồi. Tay họa sĩ rất được ưa chuộng cách đây hai mươi lăm năm. Bán đắt, có nhiều cuộc triển lăm. Người ta mua tranh ông đúng như mong muốn. Một hoạ sĩ kĩ thuật rất cao. Rồi, theo chu ḱ thông thường của những biến cố, tranh ông ta lại không hợp thời trang. Cuối cùng, hầu như không có một yêu cầu nào dành cho tác phẩm, nhưng sau đó ông ta có một cuộc hồi sinh. Ông, Stitchwort, và Fondella. Tất cả bọn họ đều đuổi kịp trào lưu.

-   Boscowan, Tommy lập lại.

-   B-o-s-c-o-w-a-n, Robert nói giọng sốt sắng.

-   Ông ta c̣n vẽ không?

-   Không. ông ta chết rồi. Chết cách đây vài năm. Một người khá già. Khi ông ta chêt, 65 tuổi, tôi nghĩ thế. Một nghệ sĩ sáng tác khá nhiều, anh biết không. Nhiều tranh vẽ trên vải bạt khắp nơi. Thật tế chúng tôi đang nghĩ đến một cuộc triễn lăm tranh ông ta tại đây khoảng chừng năm tháng nữa. Chúng tôi phải phục hồi lại hết, tôi nghĩ thế. Tại sao anh lại chú ư đến ông ta?

-   Đó là cả một câu chuyện dài để nói cho anh nghe, Tommy đáp. Một trong những ngày này tôi sẽ mời anh ra ngoài ăn trưa và cung cấp cho anh những hành động khởi đầu. Nó là cả một câu chuyện dài, phức tạp và thật sự hơi lí tưởng. Tất cả những ǵ tôi muốn biết là về ông Boscowan và tôi tự hỏi anh có t́nh cờ biết ngôi nhà được vẽ trong bức tranh này bây giờ hiện ở đâu không.

-   Trong một chốc tôi không thể nói với anh đoạn cuối được. Đó là loại tranh ông ta vẽ không giải thích được, anh biết đấy. Những ngôi nhà miền quê thường thường tại những nơi hoang vắng, đôi khi là một nông trại, thỉnh thoảng chỉ một hai con ḅ xung quanh. Đôi khi chỉ một xe ngựa chở hàng, mà nếu thế, từ đàng xa. Những khung cảnh đồng quê tĩnh lặng. Không có ǵ phác thảo hay làm rối loạn. Đôi khi bề mặt hầu hết trông giống như sơn men. Đó là một kĩ thuật ḱ dị và người ta thích nó. Khá nhiều tranh ông vẽ ở Pháp, đa số vẽ nhà thờ Normandy. Những nhà thờ. Hiện giờ tôi có một bức của ông ở đây. Đợi một phút tôi sẽ kiếm cho anh.

Ông ta đến đầu cầu thang và hét xuống một người nào bên dưới. Ngay sau đó ông trở lại với một bức sơn dầu nhỏ ông ta đỡ trên một cái ghế khác.

-   Của anh đây, ông nói. Nhà thờ Normandy đấy.

-   Vâng, tôi hiểu. Cùng một việc không thể giải thích được. Vợ tôi nói không ai từng sống trong căn nhà đó - bức tranh tôi mang theo đó. Bây giờ tôi hiểu cô muốn nói ǵ. Tôi không thấy bất cứ ai đang tham gia phục vụ trong ngôi nhà thờ đó hay từng mơ ước.

-   Có lẽ vợ ông t́m thấy một cái ǵ đó. Một nơi ở yên tĩnh, thanh b́nh mà không có ai chiếm dụng. Anh rơ rồi, ông ta không thường vẽ người. Đôi khi trong khung cảnh có một hai người, nhưng thường xuyên th́ không. Tôi nghĩ điều đó cung cấp cho chúng vẻ quyến rũ đặc biệt. Một thứ cảm giác đơn độc mơ hồ. Như là ông ta tẩy xoá tất cả sự hiện  hữu con người, và tất cả cảnh thanh b́nh của miền quê tốt nhất là không có nó. Bắt đầu suy nghĩ về nó đi, điều đó giải thích tại sao khiếu thẩm mỹ đối với ông ta được cái này mất cái kia. Ngày nay quá nhiều người, quá nhiều xe, quá nhiều tiếng ồn trên đường, quá nhiều tiếng động và rộn ràng. Hoà b́nh, thanh b́nh hoàn toàn. Để lại tất cả cho Thiên nhiên.

-   Vâng, tôi cũng không ngạc nhiên. Ông ta là loại người ǵ?

-   Tôi không rơ tính cách cá nhân của ông ấy. Trước thời đại của tôi. Bằng mọi cách ông ta vui với chính ḿnh. Mặc dù vậy ông ta là một hoạ sĩ tài năng hơn cả cái ông ta là, có lẽ thế. Mang một số lượng lớn. Dễ thương, hoàn toàn đáng mến. Chỉ quan tâm đến các cô gái.

-   Và anh không có ư kiến ǵ về chốn đồng quê đặc biệt này hiện ở đâu à? Tôi cho là, đó là Anh quốc.

-    Tôi cũng nghĩ thế, vâng. Anh muốn tôi t́m hiểu giùm cho anh chăng?

-   Anh có thể không?

-   Có lẽ việc tốt nhất để làm là hỏi bà vợ, vợ goá của ông ta. Ông cưới Emma Wing, điêu khắc gia. Nổi tiếng. Không sản xuất nhiều. Sáng tạo những tác phẩm đầy sức sống. Anh có thể đi mà hỏi bà ta. Bà ấy sống tại Hampstead. Tôi có thể cho anh địa chỉ.  Sau này chúng tôi c̣n tùy thuộc nhiều vào bà trong vấn đề triễn lăm những tác phẩm của chồng bà mà chúng tôi đang làm. Chúng tôi cũng có một ít tác phẩm điêu khắc nhỏ của bà ấy nữa. Tôi lấy địa chỉ cho anh  nhé.

Ông trở lại bàn giấy, lật một cuốn sổ cái, ghi nghệch ngoạc vái chữ trên một tấm cạc và mang lại.

-   Của anh đây, Tommy. Tôi không biết sự bí mật sâu thẳm này là cái ǵ. Anh luôn luôn là một con người bí mật, phải không? Anh thật tử tế đă giới thiệu một công tŕnh nghệ thuật của Boscowan ở đây. Có lẽ chúng tôi cần dùng trong cuộc triển lăm. Tôi sẽ gởi anh một hàng để nhắc anh gần thời gian hơn.

-   Anh có biết một bà Lancaster không?

-   Tôi không nghĩ đến chuyện ngoài tầm tay. Bà ấy là một nghệ sĩ à?

-   Không. Tôi không nghĩ vậy. Bà ấy chỉ là một bà già sống những ngày cuối đời trong nhà điều dưỡng dành cho người già. Bà ấy quan trọng bởi v́ bức tranh này thuộc về bà cho đến khi bà tặng lại cho d́ tôi.

-   Tôi không thể nói cái tên có nghĩa ǵ với tôi. Tốt hơn nên đi và nói chuyện với bà Boscowan.

-   Bà ấy như thế nào nhỉ?

-   Bà ấy trẻ hơn ông nhiều, tôi dám nói thế. Hơi có cá tính. Ông gật đầu một hai lần. Phải, khá mạnh mẽ. Anh sẽ t́m hiểu điều đó, tôi hi vọng thế.

Ông lấy bức tranh, mang xuống lầu với những  chỉ thị với người nào đó bên dưới để gói nó lại.

-   Có quá nhiều tay sai đắc lực để sai khiến th́ anh tốt số thật. Tommy nói.

Anh  nh́n quanh ông ta, lần đầu tiên chú ư tới những ǵ vây quanh.

-   Hiện nay anh có cái ǵ ở đây vậy? Anh hỏi với vẻ nhờm tởm.

-   Paul Jaggerowski - người Sla trẻ thú vị ấy mà. Bảo sản xuất tất cả tác phẩm của hắn ta dưới ảnh hưởng của thuốc đấy. Anh không thích hắn ta à?

Tommy tập trung chú ư vào một cái túi xách đan bằng giây làm cho người nh́n bị vướng vào một cánh đồng màu xanh đầy những con ḅ cái méo mó như kim loại.

-   Thật điên khùng, không.

-   Philistine đó, Robert nói. Ra ngoài ăn trưa chút đi.

-   Tôi không thể v́ c̣n có cuộc hẹn với một bác sĩ tại câu lạc bộ của tôi.

-   Không bịnh chứ?

-   Tôi đang trong thời ḱ sung sức. Áp suất máu của tôi quá tốt nó làm các vị bác sĩ  tôi nộp đơn đều bất măn.

-   Thế anh muốn gặp một bác sĩ để làm ǵ chứ?

-   Ô, Tommy vui vẻ nói - tôi vừa gặp một bác sĩ về một cái xác. Cám ơn anh đă giúp. Chào tạm biệt.

 

2

        

 Tommy chào  Dr. Murray với một ít ṭ ṃ - Anh tin chắc có một số vấn đề liên can đến cái chết của d́ Ada, nhưng làm sao mà Dr. Murray lại không hề nhắc đến chủ đích cuộc viếng thăm của ông qua điện thoại, Tommy không thể h́nh dung được.

-   Tôi e là tôi hơi trễ, Dr. Murray nói, bắt tay, nhưng xe cộ tệ quá c̣n tôi không chắc đúng địa điểm. Tôi không thuộc đường rơ lắm khu vực thuộc London này.

-   Chắc ông đă đi đoạn đường quá xấu ở đây, Tommy nói. Tôi có thể đă gặp ông một nơi nào đó thuận tiện hơn, ông biết mà.                                       

-   Vừa rồi anh rảnh chứ?

-   Chỉ một lúc thôi, vâng. Cuối tuần tôi thường đi xa.

-   Phải, tôi tin một ai đó bảo tôi vậy khi tôi gọi điện.

Tommy chỉ một cái ghế, gợi ư làm cho khoẻ lại, đặt x́ gà và diêm bên cạnh Dr. Murray. Khi hai người đàn ông đă an toạ thoải mái Dr. Murray mới mở đầu câu chuyện.

-   Tôi chắc đă đánh thức trí ṭ ṃ của anh. Thật ra chúng tôi đang ở vào thế khó xử tại Sunny Ridge. Đó là một vấn đề khó khăn phức tạp và trong một chừng mức nào đó không liên can chi tới anh. Tôi tuyệt đối không có quyền làm phiền anh nhưng có một khả năng mơ hồ là có thể anh biết một điều ǵ đó khả dĩ giúp được chúng tôi.

-   Tất nhiên, tôi sẽ làm cái ǵ đó. Một cái ǵ có dính líu tới d́ Fanshawe?

-   Không trực tiếp, không. Nhưng trong một chừng mức nào th́ bà ấy quan trọng. Tôi có thể tin cậy nói với anh chứ, có thể được không, ông Beresfold?

-   Phải, chắc rồi.

-   Thật ra là ngày nọ tôi có nói chuyện với một người bạn chung của chúng tôi. Anh ta nói với tôi một vài chuyện về anh. Tôi biết vào cuối chiến tranh anh có một nhiệm vụ khá tế nhị.

-   Tôi không cho rằng chuyện đó nghiêm trọng như thế. Tommy nói, trong một phong cách vô tội nhất của ḿnh.

-   Ô không, tôi hoàn toàn hiểu đó không phải là một việc để nói.

-   Thật sự ngày nay tôi nghĩ không c̣n quan trọng nữa. Từ chiến tranh đó là một thời ḱ tốt đẹp. Vợ tôi và tôi ngày ấy c̣n trẻ.

-   Dù sao, cái điều tôi muốn kể với anh, không có ǵ liên can đến cái đó, nhưng ít ra tôi cảm thấy tôi có thể tự do nói với anh, tôi có thể nói với anh mà không sợ anh nhắc lại với ai những ǵ tôi nói ngày hôm nay, mặc dù sau này tất cả có thể phơi bày rơ ràng.

-   Sunny Ridge đang ở vào thế kẹt, có phải ông định nói thế không?

-   Phải. Cách đây không lâu một  binh nhân của chúng tôi chết. Một bà Moody, tôi không biết anh có từng gặp bà ấy chưa hay d́ anh có nói chuyện với bà ấy không.

-   Bà Moody? Tommy suy nghĩ. Không, tôi không nghĩ vậy. Dù sao, tôi chưa đến mức nhớ lại được.

-   Bà ấy là một trong những bịnh nhân già của chúng tôi. Trong chừng mức nào đó bà ấy không đau ốm chi nặng và đang ở tuổi trên dưới bảy mươi. Đó chỉ là trường hợp một phụ nữ không có bà con và không ai chăm sóc trong phạm vi gia đ́nh. Bà ấy rơi vào phạm trù mà tôi thường tự đặt là loài biết bay. Khi già đàn bà càng ngày càng tương tợ những con gà mái. Họ cục cục. Họ quên lăng mọi sự. Họ mắc vào những sự  khó khăn và họ lo âu. Tuyệt đối không có ǵ xảy ra họ cũng đánh thức ḿnh dậy. Với họ rất ít vấn đề. Nói một cách nghiêm ngặt họ không phải thuộc t́nh trạng tâm thần không b́nh thường.

-   Nhưng họ chỉ cục cục. Tommy gợi ư.

-   Như anh nói, bà Moody chỉ cục cục. Bà gây cho các nữ y tá khá nhiều phiền phức mặc dù họ rất yêu mến bà. Bà có thói quen quên khi bà đă ăn rồi, làm ồn lên bởi v́ không có bữa tối được dọn cho bà khi thật ra trên thực tế bà vừa mới có một bữa ăn ngon.

-   Ô, Tommy nói, vụt sáng lên, bà Cocoa.

-   Xin lỗi?

-   Tôi rất tiếc, đó là cái tên vợ tôi và tôi đặt cho bà. Một ngày bà đang căi nhau với y tá Jane th́ chúng tôi đi ngang qua hành lang và nói bà chưa có cocoa. Là một phụ nữ hơi điên khá đẹp. Và rồi bà chết.

-   Thật ra tôi không ngạc nhiên khi cái chết xảy ra. Dr. Murray nói. Có khả năng tiên đoán với tính chính xác khi nào một bà già sẽ chết là thực tế không thể. Sức khỏe phụ nữ có ảnh hưởng nghiêm trọng, người ta cảm thấy thế như một hệ quả của khảo sát tâm lí, năm nào cũng vậy người khó mà kéo dài sự sống, đôi khi lại sống tốt trong mười năm khác. Họ tiếp tục bám chặt cuộc sống mà chỉ là tâm lí bất lực không thể dập tắt được. Có những người khác sức khoẻ của họ tốt một cách hợp lí và họ có thể tạo thành những bộ xương cổ, người ta nghĩ thế. Nói cách khác, chứng viêm phế quản, cúm, dường như không có khả năng hồi phục, và chết với sự yên b́nh đáng kinh ngạc. V́ vậy, như tôi nói, như  một nhân viên y tế đến nhà điều dưỡng dành cho người già, tôi không ngạc nhiên khi cái có thể gọi là một cái chết bất ngờ tốt đẹp xảy ra. Tuy nhiên, trong trường hợp của bà Moody, hơi khác. Bà chết trong giấc ngủ mà không phô bày ra bất cứ dấu hiệu đau ốm nào cả và tôi không thể nguôi cái ư tưởng rằng cái chết của bà thật bất ngờ. Tôi sẽ dùng từ ngữ luôn luôn gợi tính ṭ ṃ trong tôi trong một vở kịch của Shakespear, Macbeth. Tôi đă luôn luôn tự hỏi Macbeth muốn ǵ khi chàng nói với vợ,“ Cô đáng ra phải chết từ đây”.

-   Phải, tôi nhớ lại đă một lần ngạc nhiên tự hỏi Shakespeare gợi ư cái ǵ, Tommy nói. Tôi quên sản phẩm đó là của ai và ai đóng vai Macbeth, nhưng có một gợi ư mạnh mẽ trong tác phẩm nghệ thuật đặc biệt này, và chắc chắn trong một chừng mực nào đó Macbeth đi nước cờ này gợi ư chàng đang ám chỉ nhân viên y tế săn sóc sức khỏe vợ chàng là Lady Macbeth tốt hơn nên biến đi. Tin chắc nhân viên y tế hiểu được điều ám chỉ. Rồi th́ Macbeth, cảm thấy an toàn sau cái chết của vợ, cảm thấy cô không c̣n gây hại cho ông nữa, bởi sự thiếu thận trọng hay trí nhớ tàn lụi quá nhanh của cô, diễn tả thiện chí trung thực của ḿnh và nỗi buồn cho cô.” Cô đáng ra nên chết từ đây”.

-   Chính xác, Dr.Murray nói. Đó là cái tôi linh cảm ở trường hợp bà Moody. Tôi linh cảm bà sẽ phải chết từ đây. Không phải đúng ba tuần trước đây không có nguyên do rơ ràng -

Tommy không đáp. Anh chỉ nh́n vị Dr ḍ hỏi.

-   Thuốc men điều trị của người chắc chắn có vấn đề. Nếu anh lúng túng về nguyên nhân cái chết của một bịnh nhân chỉ có một cách bảo đảm nhất để nói. Bằng xét nghiệm tử thi. Nhưng cuộc xét nghiệm tử thi không được thân nhân người chết thông cảm, nhưng nếu một bác sĩ yêu cầu một cuộc xét nghiệm tử thi và hệ quả là, có thể hoàn toàn là, một trường hợp của những nguyên nhân tự nhiên, hay một số người chết hay người bịnh không luôn luôn cho những dấu hiệu bên ngoài hay triệu chứng bịnh, rồi tiếng tăm của bác sĩ có thể hoàn toàn bị ảnh hưởng nghiêm trọng do việc ông đă tạo ra một mối nghi ngờ có vấn đề.

-   Tôi có thể hiểu rằng điều đó ắt phải khó khăn.

-   Thân nhân là những cô em họ xa, đó mới là vấn đề. Điều hệ trọng là lưu tâm đến thuốc men để t́m hiểu nguyên do cái chết th́ tôi thừa nhận đă có được sự đồng ư của họ. Khi một người bịnh chết trong giấc ngủ thêm vào sự hiểu biết thuốc men của con người là điều hợp lí. Nhắc anh nhớ, tôi hoàn thành việc đó khá khéo léo, không tạo cho nó quá h́nh thức. May thay họ cũng bất cẩn. Trong tâm hồn tôi cảm thấy vô cùng nhẹ nhơm. Mỗi lần cuộc khám nghiệm tử thi hoàn thành và nếu tất cả tốt đẹp, tôi có thể cho người chết một giấy khai tử mà không hề có sự nghi ngờ nào. Bất cứ ai vẫn có thể chết về chứng được gọi một cách máy móc là suy tim, từ một trong nhiều nguyên nhân khác nhau. Thực tế ở tuổi đó trái tim bà Moody thật sự c̣n rất khỏe. Bà chịu đau v́ chứng viêm khớp, thấp khớp thỉnh thoảng gây phiền cho cuộc sống của bà, nhưng không phải chứng này hoà hợp với chuyến đi xa của bà trong giấc ngủ.

Dr. Murray dừng lại. Tommy mở miệng rồi ngậm lại. Vị bác sĩ gật đầu.

-   Phải, thưa ông Beresfold. Ông có thể hiểu những ǵ tôi đang theo đuổi. Cái chết là hiệu quả từ thuốc mê quá liều.

-   Chúa ơi! Tommy giật nảy và lời nói vọt ra khỏi cửa miệng anh.

-   Phải. Dường như đó là điều không thể tin, nhưng không đi vượt quá mức phân tích. Vấn đề là: ma túy được điều hành thế nào? Bà không dùng thuốc giảm đau. Bà không phải là người bịnh chịu nhiều đau đớn. Tất nhiên, có những khả thể. Có thể bà ấy lấy do t́nh cờ. Không thể. Có thể bà ấy giữ cầm nhầm một số thuốc của bịnh nhân nhưng lại đặc biệt không thể được. Bịnh nhân không được giao phó việc dự trữ liều thuốc mê, chúng tôi không chấp nhận những người nghiện ma tuư có thể dự trữ liều thuốc riêng. Có thể tự sát cố ư nhưng tôi c̣n lâu mới chấp nhận điều đó. Bà Moody mặc dầu là một người hay quấy rầy, là một kẻ tâm tính hoàn toàn vui vẻ và tôi hoàn toàn chắc bà ấy không bao giờ nghĩ đến chuyện chấm dứt đời ḿnh. Khả thể thứ ba một thứ thuốc mê định mệnh quá liều đó được cố ư vận dụng cho bà. Nhưng bởi ai, và tại sao? Tất nhiên, cô Packard cán sự điều dưỡng quốc gia và nữ hộ lư, có dự bị thuốc giảm đau cất trong một tủ đựng chén bát có khoá mà cô hoàn toàn có quyền sở hữu. Trong những trường hợp như thần kinh hông hay viêm khớp măn tính có thể gây đau đớn nghiêm trọng và tuyệt vọng thỉnh thoảng thuốc giảm đau được vận dụng. Chúng tôi đă hi vọng rằng có thể ngẫu nhiên chúng tôi gặp một vài trường hợp trong đó bà Moody do nhầm lẫn đă được cấp phát một tổng số thuốc giảm đau nguy hiểm hay tự bà lấy do ảo tưởng nó trị liệu chứng khó tiêu và mất ngủ. Chúng tôi không có khả năng t́m ra bất cứ trường hợp nào khả thể hơn thế. Việc kế tiếp chúng tôi đă giải quyết, theo gợi ư của cô Packard và tôi đồng ư với cô, nên cẩn thận nh́n vào bản báo cáo những cái chết như vậy đă xảy ra tại Sunny Ridge trong hai năm sau này. Tôi vui mà nói, không nhiều lắm. Tôi nghĩ có bảy người, đó là mức trung b́nh đẹp nhất cho con người ở một độ tuổi. Hai cái chết v́ viêm phế quản, hoàn toàn trung thực, hai bịnh cúm, luôn luôn là một kẻ giết người trong suốt những tháng mùa đông bởi v́ sức đề kháng mỏng manh được hiến cho những phụ nữ có tuổi, yếu đuối. Và ba người khác.

Ông dừng lại nói, ‘Ông Beresfold, tôi không hài ḷng về ba cái chết này, chắc chắn không thoả măn về hai người. Chúng hoàn toàn có thể xảy ra, chúng không phải là không bất ngờ, nhưng tôi sẽ đi đến tận cùng chỗ tôi biết để nói rằng chúng Không Thể xảy ra được. Chúng không phải là những trường hợp mà trên suy nghĩ và truy t́m tôi hoàn toàn thỏa măn. Người ta phải thừa nhận khả thể rằng, như nó không hề xảy ra, có một kẻ nào đó tại Sunnny Ridge, có thể v́ lí do thần kinh, là một kẻ giết người. Một kẻ sát nhân hoàn toàn không bị nghi ngờ.

Im lặng một lát. Tommy thở dài.

-   Tôi không nghi ngờ những ǵ ông cởi mở nói với tôi, anh nói, nhưng cũng vậy thôi, dường như không thể tin được. Những sự việc này, bảo đảm, không thể xảy ra.

-   Vâng, Dr.Murray buồn bă thốt. Chúng xảy ra thoả đáng. Anh kiểm tra lại một số trường hợp thuộc bịnh học. Một người đàn bà nhận làm ô xin. Bà ta đă nấu ăn trong nhiều gia đ́nh khác nhau. Bà là một người đẹp, dễ thương, phục vụ chủ trung thành, nấu ăn ngon, cùng thích ở với họ. Tuy nhiên, sớm hay muộn, những sự việc cứ xảy ra.Thường là một dĩa săng uưch. Đôi khi đồ ăn ngoài trời. Arsenic được thêm vào không có động cơ rơ rằng. Hiển nhiên chỉ là t́nh cờ kẻ khác được lịnh cầm lấy ăn. H́nh như không có trả thù cá nhân. Đôi khi không có bi kịch xảy ra. Cùng một phụ nữ đó ở một chỗ ba bốn tháng  và không có dấu vết đau ốm ǵ. không ǵ cả. rồi bà ta đi t́m một chỗ làm khác, và trong chỗ làm tiếp đó, trong ba tuần, hai gia đ́nh đă chết sau khi ăn thịt heo nướng buổi điểm tâm. Sự kiện là tất cả những chuyện này xảy ra trên trong những vùng khác nhau của nước Anh ở những thời khắc bất thường trước khi cánh sát tới gần bà. Mỗi lần bà ta dùng một tên khác nhau, tất nhiên. Nhưng có quá nhiều phụ nữ trung niên vui tánh, có khả năng, có thể nấu ăn, thật khó có thể kiếm ra người đàn bà ấy là ai.

-   Tai sao bà ta làm vậy?

-   Tôi nghĩ không ai biết được. Có nhiều lí thuyết khác nhau, dĩ nhiên đặc biệt về tâm lí. Bà ta là một phụ nữ hơi sùng đạo và có thể có một một số h́nh thức tôn giáo điên rồ khiến bà cảm thấy bà có một con qủy ra lịnh cho bà phải tẩy đi khỏi thế gian một số người nhất định, dường như không phải tại bà ta đă có bất cứ sự thù ghét nào đối với họ.

-   Rồi tiếp đến mụ người Pháp, Jeanne Gebron, gọi là Thiên Thần Nhân ái. Khi láng giềng có con nít đau mụ bối rối lắm, mụ vội vă săn sóc những trẻ em này. Mụ tận tụy bên giường chúng. Một lần nữa phải có một thời gian trước khi người ta khám phá ra những đứa trẻ mụ săn sóc Không bao Giờ hồi phục cả. Thay v́ vậy Chúng Chết hết. Một lần nữa tại sao? Sự thật khi mụ c̣n trẻ mụ mất một đứa con. Mụ ta rơ ràng bị nỗi buồn đánh gục. Có lẽ đó là nguyên do tội ác trứ danh của mụ. Nếu đứa con Của mụ chết th́ con người khác cũng chết. Hay có lẽ, như một số người nghĩ, đứa con của bà cũng là nạn nhân.

-   Ông khiến tôi rúng động đến tận xương.Tommy nói.

-   Tôi đang lấy những ví dụ đầy kịch tính nhất. Vị bác sĩ nói. Có thể có cái đơn giản hơn. Anh nhớ trường hợp Amstrong chứ, trong một chừng mực nào đó bất cứ ai cưỡng bức hay lăng mạ anh ta hay, thật ra nếu anh ta nghĩ kẻ nào đó đă làm nhục ḿnh, người đó nhanh chóng được mời uống trà và dùng bánh săng uưch có arsenic. Một loại cảm xúc mănh liệt. Tội ác đầu tiên của anh ta rơ ràng chỉ là tội ác v́ mối lợi cá nhân. Thừa kế tiền bạc. Tẩy xoá một bà vợ để anh có thể cưới một bà vợ khác.

-   Rồi đến vú Warriner người trông coi một Nhà điều dưỡng. Họ sữa chữa lại những thủ thuật phải làm với bà ta, bảo đảm một chỗ tiện nghi cho tuổi già đến khi chết - nhưng cái chết không tŕ hoăn quá lâu. Lại cũng thuốc gây mê được tận dụng - một phụ nữ rất dễ thương, nhưng không đắn đo cân nhắc - tôi tin rằng, bà ta tự cho ḿnh là một người làm phúc.

-   Ông không có ư kiến chi, nếu ông suy đoán về những cái chết này là sự thật, kẻ đó là ai?

-   Không. Dường như không có mũi nhọn. Chưa có ǵ tiến triển cả. Lấy quan điểm kẻ sát nhân có thể điên, điên là một điều rất khó nhận ra trong sự biểu lộ của nó. Chúng ta sẽ nói, một ai đó thù ghét người già, hắn bị đối xử bất công hay cuộc sống của hắn bị suy sụp hay hắn nghĩ thế, bởi kẻ già nua nào đó? Hay có thể một ai đó có ư kiến về việc giết người như một ân huệ và cho rằng một người trên sáu mươi tuổi nên bị huỷ diệt một cách tử tế. Dĩ nhiên, có thể là một ai đó. Một bịnh nhân? Hay một phần tử của nhóm - một y tá hay một người giúp việc?

-   Tôi đă thảo luận chuyện này rất lâu với cô Packard người điều khiển nhà an dưỡng. Cô ấy là người có năng lực cao, thông minh, nghiêm túc, giám sát rất kĩ những người khách đến thăm ở đó và của riêng nhóm. Cô qủa quyết cô không dù bất ḱ chuyện ǵ cô cũng không nghi ngờ và có đầu mối nào và tôi chắc đó là sự thật hoàn toàn.

-   Nhưng tại sao lại đến với tôi? Tôi có thể làm ǵ?

-   D́ của anh, cô Fanshawe ấy, là một cư dân ở đó trong nhiều năm - bà là một phụ nữ có khả năng tinh thần đáng kể, mặc dù bà thường khôn ngoan giả vờ. Bà có những cách độc đáo để tự làm ḿnh vui bằng cách khoác lên vẻ già yếu. Nhưng thực tế bà rất có lí trí - cái điều tôi muốn ông cố gắng làm, ông Beresfold, là cố nghĩ cho gắt - ông và vợ ông nữa - Có khi nào ông nhớ đến điều ǵ đó cô Fanshawe từng ám chỉ hay nói, có thể cho chúng ta một đầu mối -  một người nào đó nói với cô một điều ǵ, một cái ǵ mà tự cô nghĩ là ḱ dị. Những bà già thấy và chú ư nhiều, và một người thông minh như cô Fanshawe sẽ biết nhiều chuyện đáng ngạc nhiên tiếp diễn tại một chỗ như Sunny Ridge. Những bà già này không bận rộn, nhưng ông hiểu, lúc nào họ cũng có đủ thời gian nh́n quanh thế giới và tạo những quá tŕnh suy luận - thậm chí nhảy ngay vào kết luận - kết luận đó h́nh như có thể ḱ quái, nhưng đôi khi, kinh ngạc thay, nó lại hoàn toàn đúng.

Tommy lắc đầu.

-   Tôi muốn hiểu những ǵ ông nói - nhưng tôi không thể nhớ được.

-   Vợ ông đi xa, tôi hiểu. Ông không nghĩ cô ấy có thể nhớ một cái ǵ đó không nảy ra trong trí ông sao?

-   Tôi sẽ hỏi cô ấy - nhưng tôi nghi ngờ điều đó. Anh lưỡng lự, rồi quyết định. Nh́n đây, có một cái ǵ đó khiến vợ tôi lo âu - về một bà già, một bà Lancaster nào đó.

-   Bà Lancaster ? vâng.

-   Vợ tôi cứ nhét vào đầu rằng bà Lancaster th́nh ĺnh bị đem đi xa bởi một số người được gọi là bà con. Thực tế là, bà Lancaster tặng cho d́ tôi một bức tranh làm quà, vợ tôi cảm thấy rằng cô phải t́nh nguyện trả lại bức tranh cho bà Lancaster, v́ vậy cô cố gắng tiếp xúc với bà ấy. Cô kiếm địa chỉ khách sạn nơi họ được giả định c̣n ở lại - bà Lancaster và những người bà con - nhưng không ai có cái tên đó từng ở lại hay đăng kí pḥng ở đó.

-   Ô? Cái đó khá lạ lùng đấy.

-   Phải, Tuppence nghĩ cái ấy khá lạ lùng. Họ không để lại địa chỉ mới để chuyển tiếp thư tại Sunny Ridge. Thật sự, chúng tôi đă làm nhiều cố gắng để tiếp xúc với bà Lancaster, hay với bà Joshson - tôi nghĩ đó là cái tên - nhưng hoàn toàn không thể tiếp xúc với họ. Đó là một cố vấn pháp luật tôi tin rằng trả tất cả ngân phiếu - và sắp xếp tất cả với cô Packard và chúng tôi yên trí liên hệ với ông ta. Nhưng ông ta chỉ có thể cho tôi địa chi một nhà băng. Những ngân hàng, Tommy khô khan nói, không cho bạn bất cứ thông tin nào.

-   Không nếu họ được bảo không nói bởi các khách hàng, tôi đồng ư.

-   Vợ tôi viết thư cho bà Lancaster nhờ ngân hàng chuyển, và cũng viết cho bà Johnson, nhưngbà ấy không bao giờ trả lời.

-   Điều này dường như hơi bất b́nh thường. C̣n nữa, người ta không luôn luôn trả lời thư. Có thể họ đă đi ngoại quốc.

-   Hoàn toàn chính xác - điều đó không làm tôi lo. Nhưng lại làm vợ tôi lo. H́nh như cô ấy tin chắc rằng một cái ǵ đă xảy đến cho bà Lancaster. Thật sự, trong suốt thời gian tôi vắng nhà, cô bảo cô sẽ điều tra rơ hơn - tôi không biết chính xác cô muốn làm ǵ, có lẽ xem khách sạn với tư cách cá nhân, hay ngân hàng, hay thử dùng luật sư cố vấn. Dù thế nào th́, cô sẽ thử và kiếm thêm ít thông tin.

-   Dr. Murray lịch sự ngó anh, nhưng trong cử chỉ mang dấu hiệu nóng nảy khó chịu.

-   Chính xác cô ấy nghĩ cái ǵ - ?

-   Cô nghĩ rằng bà Lancaster đang bị nguy hiểm - thậm chí một chuyện ǵ đó có thể xảy ra với bà ta.

Đôi lông mày của vị bác sĩ dựng đứng.

-   Ô! Thật thế à, tôi khó mà nghĩ được vậy.

-   Với ông điều này h́nh như hoàn toàn ngu ngốc, Tommy nói, nhưng ông hiểu cho, vợ tôi điện thoại bảo cô sẽ trở về tối hôm qua - và - cô Không Về.

-   Cô nói khẳng định rằng cô Đang trở về sao?

-   Phải. Cô biết tôi đang về nhà, ông biết mà, từ hội nghị này. V́ thế cô gọi điện bảo người làm của chúng tôi, Albert, cho biết  cô sẽ về ăn tối.

-   Và h́nh như đối với anh làm vậy là một việc không thể nào có đối với cô? Dr. Murray hỏi. Bây giờ ông ta nh́n Tommy với sự chú tâm.

-   Phải, Tommy đáp. Điều đó Rất không giống với Tuppence. Nếu cô tŕ hoăn hay thay đổi chương tŕnh cô sẽ gọi điện hay đánh một bữc điện chứ.

-   Và anh lo cho cô?

-   Phải, tôi lo.

-   Hừm! Anh đă hỏi ư kiến cảnh sát chưa?

-   Chưa, Tommy nói. Cảnh sát nghĩ ǵ? có vẻ như là tôi không có lí do chi để tin rằng cô ấy đang gặp rắc rối hay nguy hiểm. Tôi muốn nói, nếu cô bị tai nạn và nằm bệnh viện, hay cái ǵ tương tự, một ai đó sẽ liên hệ với chúng tôi ngay, phải không nào?

-   Tôi sẽ nói thế - vâng - nếu như cô có một số giấy tờ căn cước.

-   Cô mang theo bằng lái xe. Có thể thư từ và nhiều thứ khác nữa.

Dr. Murray cau mày.

Tommy vội vă tiếp tục.

- Và bây giờ ông đến - đem theo mọi việc ở Sunny Ridge - Người ta chết khi họ không phải chết. Giả sử hạt đậu già này nắm được một cái ǵ đó - và bắt đầu tán gẫu về nó - trong một cách nào đó bà phải im lặng, v́ thế bất ngờ bà ấy bỏ đi, và đến một nơi nào đó nơi bà không thể bị theo dơi. Tôi không thể cưỡng lại cảm tưởng toàn thể sự việc cột chặt với nhau dù sao chăng nữa -

- Thật ḱ lạ - chắc chắn ḱ lạ - sắp tới anh định làm ǵ ?

- Tôi sẽ tự ḿnh t́m kiếm một chút - đầu tiên thử tiếp xúc với các luật sư - có thể họ hoàn toàn có lí, nhưng tôi thích nh́n bề ngoài các sự kiện mà xét, rồi có những kết luận riêng hơn.

v     

     

12. TOMMY GẶP MỘT NGƯỜI BẠN CŨ

 

Từ phía đối diện của đường phố, Tommy ngắm nh́n cơ ngơi của nhà Messrs. Partingdale, Harris, Lockeridge và Partingdale.

Trông chúng nổi bật vẻ đáng kính và cổ điển. Tấm bảng đồng cũ rích nhưng c̣n bóng láng dễ thương. Anh băng qua đường và được những âm thanh máy đánh chữ gơ nhanh câm lặng  xuyên qua những cánh cửa mở đu đưa chào đón.

Anh hướng sự chú ư của ḿnh lên cửa sổ bằng gỗ dái ngựa bên tay phải mang những chữ ghi trên đồng xu Điều Tra -

Bên trong là một pḥng nhỏ nơi ba người phụ nữ đang đánh máy và hai thư kí nữ đang cúi ḿnh trên những bàn giấy chép lại những tài liệu.

Một bầu không khí thoang thoảng mùi ẩm mốc với một tính cách hợp pháp triệt để.

Một phụ nữ ba mươi lăm tuổi,  mái tóc vàng nhạt, một cái kính kẹp mũi ngước lên từ bàn máy đánh chữ đến cửa sổ với vẻ nghiêm khắc.

- Tôi có thể giúp ǵ được cho ông?

- Tôi muốn gặp ông Eccles.

Vẻ nghiêm khắc của người đàn bà tăng gấp đôi.

- Ông có hẹn không?

- Tôi e là không. Tôi vừa mới đến London hôm nay.

- Tôi e là ông Eccles sáng hôm nay hơi bận. Có lẽ một người khác của hăng -

- Tôi đặc biệt muốn gặp ông Eccles. Tôi đă có trao đổi thư từ với ông rồi.

- Tôi hiểu. Có lẽ ông sẽ cho biết tên ông.

Tommy cho tên và địa chỉ và người phụ nữ tóc vàng rút lui để dùng điện thoại xin ư kiến. Sau cuộc nói chuyện nhỏ cô trở lại.

- Thư kí của chúng tôi sẽ đưa ông vào pḥng đợi. Ông Eccles sẽ có thể tiếp ông trong mười phút.

Tommy được dẫn vào một pḥng đợi có một kệ sách hơi cổ và những chồng sách luật trông buồn tẻ và một bàn tṛn phủ đầy giấy tờ thuộc tài chính khác nhau. Tommy ngồi đó và điểm lại trong đầu những phương pháp tiếp cận theo dự tính. Anh tự hỏi ông Eccles sẽ như thế nào. Cuối cùng anh được dẫn vào và ông Eccles từ bàn giấy đứng lên đón, anh quả quyết nói rơ ra là ông không thích ông Eccles không v́ lí do đặc biệt nào cả. Ông cũng tự hỏi ḿnh v́ sao ông không ưa ông Eccles. Dường như không có lí do căn bản của sự thù ghét. Ông Eccles là một người giữa bốn mươi và năm mươi tuổi với mái tóc màu xám tro hơi mỏng ở đỉnh đầu. Khuôn mặt ông ta dài hơi buồn với nét mặt đặc biệt như tạc bằng gỗ, đôi mắt sắc, một nụ cười khá vui đôi khi cắt bớt một cách bất ngờ nét buồn tẻ của h́nh dáng.

- Ông Beresfold?

- Vâng. Thật ra là một việc hơi tầm thường, nhưng vợ tôi đă lo âu. Cô viết thư cho ông, tôi tin thế, hay có khả năng cô đă gọi điện, để t́m hiểu xem ông có thể cho cô ấy địa chỉ của một bà Lancaster nào đó không.

- Bà Lancaster à, ông Eccles nói, giữ nguyên một khuôn mặt hoàn toàn vô cảm. Thậm chí đó không phải là một câu hỏi. Ông chỉ để lại cái tên lơ lửng trong không khí.

- “Một người đàn ông thận trọng,” Tommy nghĩ,” nhưng đó là bản chất thứ hai của những luật gia thận trọng. Thật ra, nếu họ là luật sư riêng của ai người ta cũng thích họ thận trọng.”

Ông tiếp tục:

- Cho đến lúc sau này sống ở một chỗ gọi là Sunny Ridge, một cơ sở công cọng - và một chỗ rất tốt - cho những bà già. Thật sự, một bà d́ của chúng tôi ở đó là cực ḱ hạnh phúc và dễ chịu.

- Ô vâng, dĩ nhiên rồi, dĩ nhiên. Bây giờ tôi nhớ rồi. Bà Lancaster. Tôi nghĩ, bà không c̣n sống ở đó nữa? Điều đó hợp lí, phải không?

- Phải, Tommy đáp.

- Có lúc tôi không nhớ lại chính xác - ông ta đưa tay vói máy điện thoại - tôi vừa mới hồi phục kí ức -

- Tôi có thể kể lại cho ông hoàn toàn đơn giản, Tommy nói. Vợ tôi cần địa chỉ của bà Lancaster bởi v́ cô t́nh cờ sở hữu một mảnh tài sản nguyên thủy thụôc về bà Lancaster. Một bức tranh, thật thế. Bà Lancaster đă tặng nó cho d́ tôi, cô Fanshawe như một món quà. D́ tôi vừa mới chết, và một ít của nả của d́ lọt vào quyền sở hữu của chúng tôi. Trong đó gồm có bức tranh được bà Lancaster tặng. Vợ tôi rất thích nó nhưng cô lại có cảm giác tội lỗi về cái ấy. Cô nghĩ rằng có thể là một bức tranh bà Lancaster đánh giá cao và trong trường hợp này cô cảm thấy ḿnh phải tự nguyện trả lại cho bà ấy.

- Tôi hiểu, ông Eccles nói. Bà nhà thật là giàu lương tâm đạo đức, tôi bảo đảm.

- Người ta không bao giờ hiểu, Tommy cười vui vẻ, người già có thể cảm giác ǵ về tài sản của họ. Có lẽ bà ấy cảm thấy vui từ khi d́ tôi say mê bức tranh ấy và có nó, nhưng khi d́ tôi chết ngay sau khi nhận bức tranh này, dường như hơi không đẹp nếu bức tranh thuộc quyền sở hữu của người khác. Trên tranh không có đề mục đặc biệt. Nó tŕnh bày một ngôi nhà nào đó trong xứ. V́ tất cả điều tôi biết có thể là một vài nhà thân cận liên can đến bà Lancaster.

- Hoàn toàn, chính xác, ông Eccles nói, nhưng tôi không nghĩ -

  Có tiếng gơ, cửa mở ra một người thư kí đi vào đưa ra một tờ giấy đặt xuống bàn trước mặt ông Eccles, ông Ecceles nh́n xuống.

- Vâng, à vâng, bây giờ tôi nhớ. Vâng, tôi tin bà - ông liếc nh́n tấm cạc Tommy đặt trên bàn giấy - Berefold gọi điện nói vài lời với tôi. Tôi khuyên bà nên tiếp xúc với ngân hàng các quận phía bắc, chi nhánh Hammer. Đó là địa chỉ duy nhất chúng tôi biết, nhờ bà Richard Johnson chuyển tiếp. Tôi tin bà Johnson là một người cháu hay em họ xa của bà Lancaster và bà ấy thu xếp mọi chuyện với tôi cho bà Lancaster được nhận vào ở Sunny Ridge. Từ khi bà ngẫu nhiên nghe được qua một người bạn, bà yêu cầu tôi điều tra đầy đủ về cơ sở công cọng, Người ta nói đó là một cơ sở tuyệt vời và tôi tin người bà con của bà Johnson, bà Lancacster, sống nhiều năm hoàn toàn hạnh phúc.

- Mặc dầu thế, bà ấy rời khỏi nơi đó quá bất ngờ. Tommy gợi ư.

- Phải, phải, tôi tin rằng bà ấy đă làm thế. Bà Johnson dường như từ Đông Phi Châu trở về hơi bất ngờ - quá nhiều người làm thế! Bà và chồng bà ấy, đă cư trú tại Kenya trong nhiều năm. Họ đang tổ chức nhiều cuộc dàn xếp và cảm thấy có thể tin tưởng vào sự chăm sóc cá nhân dành cho người bà con của họ. Tôi e rằng tôi không biết bà Johnson hiện tại ở đâu. Tôi có lá thư của bà cám ơn tôi và thanh toán những khoản tín phiếu bà c̣n nợ tôi, và nói thẳng nếu cần liên hệ với bà tôi nên đề địa chỉ nhờ ngân hàng chuyển khi bà và chồng cũng chưa quyết định họ sẽ thật sự cư trú ở đâu. Tôi e, ông Beresfold, đó tất cả những ǵ tôi biết.

Cử chỉ của ông ta dịu dàng nhưng quả quyết. Nó không phô bày sự bối rối, không lo phiền. Nhưng tính chất dứt khoát của giọng nói rất xác định. Rồi ông thẳng người lên và phong thái mềm lại một chút.

- Thật sự tôi không lo, ông Beresfold, ông biết mà, ông nói giọng khích lệ. Ô, tôi không để cho bà nhà phải lo. Bà Lancaster, là một bà già và có khuynh hướng hay quên, tôi tin thế. Có lẽ bà đă quên tuốt tất cả về bức tranh mà bà ấy tặng rồi. Bà ấy bảy mươi lăm hay bảy mươi sáu rồi chứ. Ở tuổi đó, người ta quên dễ dàng lắm, khỏi phải nói.

- Ông có biết tính cách cá nhân của bà ấy không?

- Không, thật sự tôi chưa bao giờ gặp bà ta.

- Nhưng ông biết bà Johnson?

- Tôi gặp bà ấy khi bà thỉnh thoảng đến đây để tư vấn tôi về những cuộc sắp xếp. Bà ấy h́nh như là một người vui vẻ, nghiêm túc. Trong những cuộc sắp xếp bà ấy làm bà tỏ ra khá có năng lực. Ông đứng dậy nói, rất tiếc tôi không thể giúp ông nữa, ông Beresfold.

Đó là một lối đuổi khách dịu dàng nhưng cương quyết.

Tommy bước ra ngoài đường Bloomsybury và nh́n quanh t́m một chiếc tắc xi. Cái gói anh đang mang, dù không có sức nặng, là một kích thước đáng kể. Trong một chốc anh nh́n lên toà nhà anh vừa rời khỏi. Toà nhà được xây dựng từ lâu, tiếng tăm đáng kính. Ở đó không có ǵ có thể lầm lẫn, rơ ràng không có ǵ có thể sai lầm với nhà Messrs. Partingdale, Harris, Lockeridge và Partingdale, không có ǵ sai lầm với ông Eccles, không có dấu hiệu kinh hoảng hay chán nản, không có sự mập mờ hay bất ổn. Trong sách vở, Tommy buồn bă nghĩ, nhắc đến bà Lancaster hay bà Johnson chắc phải nói đến một khởi đầu tội lỗi hay cái liếc nh́n gian xảo. Một cái ǵ đó tŕnh bày những cái tên được đăng kí, tất cả không tốt. Trong đời sống thực tế những sự việc không xảy ra như vậy. Tất cả cái ông Eccles có trông giống như một người đàn ông quá lịch lăm không thể để cho th́ giờ của ḿnh bị phí phạm bởi một cuộc điều tra như Tommy vừa mới làm.

Tommy suy nghĩ, nhưng cũng vậy thôi, Ta Không Ưa Eccles. Anh nhớ lại những kí ức lờ mờ về quá khứ, những người khác mà anh v́ một lí do nào đó không thích. Những linh cảm thông thường này - v́ tất cả đều là những linh cảm - có lí. Có lẽ nó giản dị hơn. Trong đời bạn nếu bạn có khá nhiều giao dịch buôn bán với những người nổi tiếng, bạn có một cảm giác về họ, cũng như một chuyên gia đồ cổ - lập tức biết ngay sở thích và vẻ ngoài và linh cảm sự làm giả trước khi bắt tay thử nghiệm và khảo sát mang tính chuyên nghiệp. Sự kiện đúng là Sai Lầm. Bức tranh cũng Sai lầm. Tin chắc như thế với một thủ quỹ trong một ngân hàng họ cung cấp một tờ giấy bạc giả mạo hạng nhất.

“Hắn nói nghe có lí; Tommy nghĩ. Hắn trông có lí, nghe hắn nói có vẻ có lí, nhưng có khác ǵ - ”. Anh điên cuồng vẫy một chiếc tắc xi chiếc xe tặng anh một cái nh́n trực diện lạnh lẽo, tăng tốc và đi mất. ‘đồ con lợn,’ Tommy nghĩ.

Mắt anh láo liên nh́n ngược xuôi đường phố, t́m một chiếc xe sắn ḷng giúp đỡ. Một số lớn người đang đi bộ trên hè đường. Một vài người vội vă, một vài người rảo bước, một người đàn ông vừa tách khỏi anh băng qua đường đang nh́n chăm chăm một tấm bảng đồng. Sau một cuộc kiểm tra kĩ lưỡng, anh nh́n quanh và đôi mắt Tommy mở to một chút. Anh biết khuôn mặt đó. Anh nh́n người đàn ông đi bộ xuống cuối con đường, ngừng lại, quay lại và đi bộ trở lại. Một người ra khỏi toà nhà phía sau Tommy; ngay lúc đó người đàn ông phía đối diện tăng tốc một chút, vẫn tiếp tục đi bộ phía bên kia đường nhưng vẫn giữ cước bộ với người đàn ông đă ra khỏi cửa. Người đàn ông đă ra khỏi cửa nhà Messrs. Partingdale, Harris, Lockeridge và cánh cửa của Partingdale là, Tommy nghĩ, trông phía sau h́nh người thụt lùi của ông ta, hầu như đoan chắc là ông Eccles. Cùng lúc đó một chiếc tắc xi rề qua mời mọc vui vẻ, lái dọc theo. Tommy đưa tay lên, chiếc tắc xi trờ đến, anh mở cửa leo vào.

- Đi đâu?

Tommy lưỡng lự một chút, nh́n cái gói. Định cho một địa chỉ anh đổi ư và nói,’ 14 Lyon’.

Mười lăm phút sau anh đến nơi. Sau khi trả tiền tắc xi anh rung chuông và hỏi ông Ivor Smith. Khi anh đi vào một căn pḥng ở tầng hai, một người đàn ông đang ngồi ở cái bàn nhỏ đối diện cửa sổ, quay ngoắt lại và nói với sự ngạc nhiên mơ hồ.

- Chào, Tommy, không tưởng được chuyện gặp anh. Lâu lắm rồi. Anh đang làm ǵ ở đây thế? Chỉ lái xe một cách thoải mái để t́m bạn sao?

- Không hoàn toàn tốt như thế đâu, Ivor.

- Vậy tôi tưởng anh đang về nhà sau hội nghị?

- Vâng.

- Và nhiều chuyện thông thường để hội đàm, tôi tưởng thế? Không có kết luận và không có ǵ ích lợi để nói cả.

- Đúng. Và tuyệt đối phí phạm thời gian -  

- Đa số lắng nghe lăo già Bogie Waddock khoác lác, tôi nghĩ vậy. Một người rất tẻ nhạt. Càng năm càng tệ.

- Ồ! -

Tommy ngồi xuống cái ghế được đẩy về phía anh, nhận một điếu x́ gà, và nói.

- Tôi chỉ tự hỏi -  đó là một điều đoán thử để cầu may - ông có biết điều ǵ về một người tên Eccles bản tính hay lăng mạ, luật sư cố vấn, hăng Messrs. Partingdale, Harris, Lockeridge và Partingdale.

- Tốt, tốt, tốt, người đàn ông tên Ivor Smith nói. Ông nhướng đôi lông mày lên. Đó là cặp chân mày rất tiện lợi khi nhướng lên. Phần cuối lông mày gần sóng mũi dựng lên c̣n phía đối diện với g̣ má th́ rủ xuống trong một sự ngạc nhiên tột độ. Chúng tạo cho ông vẻ hơi khiêu khích một chút trông giống người bị một cú sốc mạnh, nhưng thực tế chỉ là một cử chỉ khá thông thường thôi. “Anh lại đương đầu với Eccles một nơi nào đó à, phải không?”

- Caí phiền là, Tommy nói, tôi không biết ǵ về hắn ta cả.

- Vậy anh muốn biết ǵ đó về hắn?

- Phải.

- Hừm. Cái ǵ khiến anh đến gặp tôi thế?

- Tôi thấy Anderson bên ngoài. Tôi đă gặp hắn từ lâu, nhưng tôi nhận ra hắn ngay. Hắn đang theo dơi một ai đó. Người đó là ai, đó là một kẻ trong toà nhà tôi vừa mới ra khỏi. Hai hăng luật sư làm việc ở đó và một hăng thuộc nhân viên kế toán có năng lực hành nghề. Tất nhiên có thể là một trong hai hăng hay một phần tử nào đó của hăng. Nhưng có một gă đi dọc xuống đường tôi trông giống Eccles. Và tôi chỉ tự hỏi bởi dịp may nào mà Anderson lại chú ư đến Eccles của tôi?

- Hừm, Ivor Smith. Tommy, anh luôn là một người suy đoán cực giỏi.

- Eccles là ai?

- Anh không biết à? Anh không có ư kiến ǵ sao?

- Tôi không có ư kiến, Tommy đáp. Không đi sâu vào một câu chuyện lịch sử dài, tôi đến t́m ông ta v́ thông tin về một bà già vừa mới rời khỏi nhà điều dưỡng dành cho qúy bà. Vị cố vấn pháp luật được thuê để sắp xếp cho bà già ấy là luật sư Eccles. Y có vẻ thôi hẳn vụ đó với thái độ cư xử lịch thiệp và có hiệu quả. Tôi cần địa chỉ hiện tại của bà ấy. Hắn nói hắn không có. Có thể hắn không có...nhưng tôi vẫn thắc mắc. Hắn là đầu mối duy nhất gần bà ấy mà tôi có.

- Và anh cần t́m bà ta?

- Phải.

- Tôi không nghĩ điều nói ra như có vẻ tôi sẽ yêu cầu quá sức chịu đựng đối với anh. Eccles là một người rất đáng kính trọng, một luật sư nổi tiếng làm ra được lợi tức lớn, có khá nhiều khách hàng cao cấp đáng nể, làm việc cho những điền chủ, những tầng lớp chuyên nghiệp, lính tráng và thủy thủ nghỉ hưu, các vị đại tướng và đô đốc và tất cả những cái không thể giải thích được. Hắn ta ở giai đoạn phát triển cao nhất của sự tôn kính. Từ những điều anh vừa nói tôi có thể tưởng tượng ra, rằng những hoạt động của hắn tuyệt đối đúng luật.

- Nhưng anh - anh chú ư đến hắn, Tommy gợi ư.

- Phải, chúng tôi rất chú ư đến ông James Eccles. Ông ta thở dài. Chúng tôi chú ư đến ông ta ít ra cũng sáu năm. Chúng tôi chưa tiến xa lắm.

- Rất đáng chú ư, Tommy nói. Tôi sẽ hỏi ông lần nữa. Chính xác ông Eccles là ai?

- Anh muốn nói chúng tôi nghi ngờ Eccles về chuyện ǵ? Tốt, nói tắt một câu, chúng tôi nghi hắn là một trong những đầu năo tổ chức giỏi nhất trong những hoạt động tội ác của xứ này.

- Hoạt động tội ác? Tommy có vẻ kinh ngạc.

- Ồ, vâng, vâng. Không áo choàng hay dao găm. Không có gián điệp, hoạt động chống gián điệp. Không, hoạt động tội ác đơn giản. Hắn là một người đàn ông theo chỗ chúng tôi biết có thể khám phá được là không bao giờ thực hiện một tội ác nào trong cuộc đời. Hắn không bao giờ ăn cắp, hắn không bao giờ làm giả giấy tờ, không bao giờ rửa tiền, chúng tôi không bao giờ có chứng cớ nào chống lại hắn cả. Nhưng cũng thế bất cứ khi nào có một tổ chức đánh cướp lớn có dự mưu, ở đó chúng tôi thấy, ông Eccles đang dẫn đầu một cuộc sống lương thiện.

- Sáu năm, Tommy nói giọng suy tưởng.

- Thậm chí c̣n lâu hơn thế. Nó chiếm một thời gian ngắn, để nắm bắt những mẫu sự kiện.  Những vụ cướp ngân hàng, những vụ trộm tư trang, tất cả các loại sự kiện đem lại món tiền lớn. Tất cả các việc đều theo một mẫu nhất định. Anh không thể ngừng suy nghĩ rằng cùng một cái đầu đă tổ chức chúng. Người trực tiếp điều khiển và mang đi không bao giờ phải làm bất cứ dự án nào. Chúng đi nơi chúng  được báo, chúng làm những ǵ chúng được ra lịnh, chúng không bao giờ phải suy nghĩ. Một kẻ nào khác đang suy nghĩ.

- Và cái ǵ làm ông t́nh cờ nghĩ ra được sáng kiến Eccles?

Ivor Smth lắc đầu suy nghĩ. Phải dài ḍng để kể cho anh nghe. Hắn là một người có nhiều mối quan hệ, nhiều bạn. Có những người hắn chơi gôn, có những người phục vụ cho xe hơi của hắn, có những hăng môi giới cổ phần hoạt động cho hắn. Có những công ty làm những việc không có chi đáng chê trách mà trong việc đó  hắn bị chú ư. Dự án càng rơ ràng nhưng vai tṛ của hắn trong dự án th́ không  rơ ràng, trừ việc hắn vắng mặt rất dễ nhận biết vào những dịp nào đó. Một vụ đánh cướp ngân hàng lớn được tổ chức thông minh( và không có chi phí chia phần, nhắc anh đấy), củng cố chuyện dời khỏi một nơi và tất cả phần c̣n lại, c̣n ông Eccles khi xảy ra chuyện ở đâu? Monte Carlo hay Thụy sĩ hay thậm chí câu cá hồi tại Na uy. Có thể bảo đảm ông Eccles không bao giờ ở trong một trăm dặm nơi những hoạt động tội ác xảy ra.

- Tuy vậy ông vẫn nghi ngờ hắn?

- Vâng. Tôi hoàn toàn chắc trong trí óc tôi. Nhưng khi nào chúng tôi bắt hắn tôi không biết. Người đàn ông đào đường hầm dưới nền nhà một ngân hàng, người đàn ông đánh ngă người gác đêm, người thủ quỹ từ khởi đầu ở trong chuyện, người quản lí ngân hàng cung cấp tin tức, không ai trong bọn họ biết Eccles, có lẽ họ không bao giờ thấy lăo nữa. Cả một chuỗi xích dài dẫn đi xa - và h́nh như không một người nào biết ǵ hơn ngoài chuyện tự ḿnh liên kết lại với nhau.

- Kế họach cũ hay của băng nhóm?

- Nhiều hay it, phải, nhưng có một số suy nghĩ khởi thủy. Một ngày nào đó chúng tôi sẽ có một cơ hội. Một kẻ nào đó không biết Cái ǵ , sẽ biết Một điều ǵ đó. Một điều ǵ đó trẻ con và tầm thường,có lẽ thế, nhưng một cái ǵ đó khá ḱ lạ có thể là chứng cớ sau cùng.

- Hắn cưới vợ - có gia đ́nh chưa?

- Không, hắn không bao giờ dám liều như vậy. Hắn sống một ḿnh với quản gia và một người làm vườn và một hầu pḥng nam. Ơ một chừng mức nào đó hắn tiếp đăi dịu dàng vui vẻ, và tôi dám thề rằng mỗi một người độc thân bước vào nhà như khách của hắn đều vượt quá sự nghi ngờ.

- Và không ai trở nên giàu có à?

- Đó là một điểm hay mà anh vừa điểm mặt chỉ tên ra, Thomas. Một kẻ nào đó Phải đang trở nên giàu. Một kẻ nào đó phải được Thấy đang giàu lên. Nhưng phần này được xếp đặt quá thông minh. Tiền đầu tư vào những cổ phần và vốn kinh doanh, tất cả những sự việc đều tự nhiên, chỉ đủ tạo những số tiền lớn, và rơ ràng tất cả đều là những công việc làm ăn trung thực. Có nhiều số tiền chất thành đống ở ngoại quốc trong những xứ và những chỗ khác nhau. Đó là một số tiền lớn, khổng lồ, cơ hội kiếm tiền đáng ngại - và tiền th́ luôn luôn chuyển dịch - đi từ chỗ này đến chỗ khác.

- Tốt, Tommy nói, may cho ông. Tôi hi vọng ông bắt được gă đó.

- Bắt hắn bằng cách nào?

- Sự nguy hiểm, Ivor nói. Làm cho hắn cảm thấy hắn đang bị nguy hiểm. Làm cho hắn cảm thấy một ai đó hiểu được hắn. Làm cho hắn bất ổn, hắn có thể làm điều ǵ đó ngu ngốc. Hắn có thể phạm sai lầm. Đó là cách anh bắt bọn tội phạm, anh biết rơ mà. Nắm lấy gă đàn ông thông minh nhất, hắn có thể vạch một kế hoạch sáng chói và không bao giờ phạm sai lầm. Để cho một số sự kiện làm hắn lo lắng hồi hộp và hắn sẽ phạm sai lầm. Tôi đang hi vọng thế. Nào bây giờ hăy nghe câu chuyện của anh. Anh có thể biết cái ǵ đó hữu ích chăng.

- Không có chi dính dáng tới tội phạm cả, tôi e là thế - không mấy quan trọng.

- Được, cứ nghe đă.

Tommy kể lại câu chuyện của ḿnh không xin lỗi về tính cách quá tầm thường của nó. Ivor mà anh biết, không phải là loại người khinh miệt sự tầm thường. Ivor, thật sự đi thẳng vào cái mũi nhọn đă mang Tommy đến chỗ sai lầm.

- Và vợ anh biến mất, anh  nói?

- Điều đó không giống cô ấy.

- Nghiêm trọng đấy.

- Nghiêm trọng khá đủ với tôi.

- Tôi có thể tưởng thế. Tôi chỉ gặp cô ấy có một lần. Cô thông minh.

- Nếu cô đuổi theo ai cô giống như một con hổ dữ theo mồi, Tommy nói.

- Anh vẫn chưa đến cảnh sát sao?

- Không.

- Tại sao không?

- Đầu tiên bởi v́ tôi tin rằng cô ổn thôi hoàn toàn không gặp chuyện ǵ. Tuppence luôn luôn có lí. Cô chỉ đuổi theo bất cứ con thỏ rừng nào tự phơi ḿnh ra. Cô không thể có thời gian để liên hệ.

- Mmm. Tôi không thích cái ấy lắm. Cô đang t́m kiếm một ngôi nhà, anh nói? Chỉ có cái đó là Có Thể đáng chú ư v́ giữa những thứ đầu cua đuôi nheo chúng ta đang theo đuổi, ngẫu nhiên không dẫn đến đâu, là một dấu chỉ của đại diện nhà đất.

- Đại lí nhà đất? Tommy có vẻ ngạc nhiên.

- Phải. Những đại lí nhà đất đẹp, b́nh thường, hơi tầm thường trong những thị trấn miền núi tại những xứ khác nhau của Anh quốc. Hăng của Eccles giải quyết nhiều việc cho và với những đại diện nhà đất. Đôi khi lăo làm cố vấn cho người mua và đôi khi cho người bán, và hắn thuê nhiều đại diện nhà đất khác nhau, v́ quyền lợi của khách hàng. Đôi khi chúng tôi tự hỏi tại sao. Không có ǵ thích đáng cả, anh thấy đấy -

- Nhưng ông nghĩ cái ấy có thể nghĩa là một cái ǵ hay dẫn tới cái ǵ chăng?

- Phải, nếu anh nhớ lại vụ cướp ngân hàng lớn phía Bắc London cách đây nhiều năm, có một ngôi nhà trong xứ - một ngôi nhà vắng vẻ. Đó là nơi hẹn của bọn cướp. Ơ đó chúng không bị chú ư lắm, nhưng là nơi hàng hoá được mang đến và cất dấu của cải. Người trong miền phụ cận bắt đầu có một vài câu chuyện về họ, và tự hỏi những kẻ đến và đi vào những giờ bất thường này là ai. Nhiều loại xe hơi khác nhau đến vào lúc nửa đêm và lại đi. Người ta ṭ ṃ về những người láng giềng trong xứ. Chắc chắn, cảnh sát đă kiểm tra đột xuất chỗ đó, họ bắt được ba người đàn ông, gồm một người được nhận ra và xác minh.

- Cái ấy có đưa ông đến nơi nào không?

- Thật ra th́ không. Bọn đàn ông sẽ không khai, chúng được bảo vệ và được giới thiệu tốt, chúng bị kết án tống giam dài hạn và trong ṿng một năm rưỡi tất cả bọn chúng lại ra tù lần nữa. Những sự giải cứu rất thông minh.

- Dường như tôi nhớ có đọc về cái đó. Một người đàn ông biến mất khỏi toà án tội ác nơi hắn vừa được mang đến bởi hai người cai ngục.

- Đúng. Tất cả được xếp đặt rất thông minh và một số tiền khổng lồ chi cho việc trốn thoát.

Nhưng chúng tôi nghĩ rằng bất cứ kẻ nào chịu trách nhiệm trong băng nhóm sẽ nhận ra hắn ta đă làm một việc sai lầm khi xử dụng một căn nhà quá lâu, để cho người dân địa phương chú ư. Có lẽ, một kẻ nào đó nghĩ rằng sẽ tốt hơn nếu kiếm những chi nhánh công ty kinh doanh vào ở, như nhiều ngôi nhà số 30 trong những Địa Điểm khác nhau. Người ta đến và thuê một ngôi nhà, mẹ và con gái, một quả phụ, hay một người lính nghỉ hưu và vợ. Những người thầm lặng dễ thương. Họ sữa chữa căn nhà một vài chỗ, kiếm một thợ xây dựng địa phương vào và cải thiện ống nước, có lẽ một vài hăng từ London xuống trang hoàng lại, rồi sau một năm hay một năm rưỡi điều kiện tài chánh khá giả, những người ở bán căn nhà và đi ra ngoại quốc sinh sống. Có một chuyện như thế. Tất cả rất tự nhiên và vui vẻ. Trong suốt thời gian thuê nhà ngôi nhà đó đă được xử dụng có lẽ cho những âm mưu bất b́nh thường! Nhưng không ai nghi ngờ một việc như vậy cả. Những bạn bè đến thăm, không thường xuyên lắm. Chỉ thỉnh thoảng thôi. Một đêm, có lẽ, một buổi tiệc sinh nhật dành cho tuổi trung  niên, hay đôi vợ chồng già; hay buổi họp mặt dành cho người đă đến tuổi trưởng thành. Nhiều xe hơi đến và đi. Người ta nói có năm vụ cướp trong ṿng sáu tháng nhưng mỗi lần hàng hoá đều trót lọt, hoặc được cất giấu, không chỉ một trong những ngôi nhà này, mà đến năm nhà khác nhau trong năm chỗ khác nhau ở miền quê. Ây chỉ là một giả thuyết cho đến bây giờ, nhưng chúng tôi bắt buộc phải làm việc. Hăy nói bà già của anh để lại một bức tranh một  ngôi nhà nào đó từ tài sản của bà, giả sử đó là một ngôi nhà Có ư Nghĩa. Giả sử đó là ngôi nhà mà Cô ấy đă nhận ra nơi nào đó, và chạy bổ ra ngoài điều tra. Giả sử một kẻ nào đó không muốn ngôi nhà bị điều tra - có thể cột chặt với nhau nhiều sự kiện, anh biết đấy.

- Sự so sánh  ấy thật khiên cưỡng.

- Ô vâng - tôi đồng ư. Nhưng vào những thời đại này chúng ta sống trong những giai đoạn khiên cưỡng - trong thế giới đặc biệt này những chuyện không thể tin được vẫn xảy ra.

 

                                                                    2

      

Tommy hơi mệt mỏi xuống chiếc tắc xi thứ tư trong ngày và nh́n những ǵ vây quanh anh, đánh giá. Chiếc tắc xi đă thả ông xuống một ngơ cụt ẩn náu khiêm tốn dưới một trong những chỗ nhô lên của Hampstead Heath. Ngơ cụt h́nh như có một số ‘ mở mang’ nghệ thuật. Mỗi ngôi nhà khác biệt ngôi nhà kế bên một cách hoang dại. Ngôi nhà đặc biệt này chừng như có một xưởng vẽ với ánh sáng mặt trời chiếu vào trong, và sát cạnh( trông giống như một lợi răng bị sưng), một phía là một cụm nhỏ ba pḥng. Một cầu thang được sơn màu xanh lục tươi chạy thẳng bên ngoài toà nhà. Tommy mở cánh cổng chính nhỏ, đi lên một lối đi hẹp và không thấy cái chuông nào khiến anh đành chuyên tâm vào chuyện gơ cửa. Không nghe lời đáp, anh im lặng vài phút rồi lại khởi sự gơ, lần này hơi lớn hơn.

Bất ngờ cánh cửa mở ra khiến anh gần té về phía sau. Một phụ nữ đứng trong lề cửa. Ơ cái nh́n đầu tiên cảm tưởng đầu tiên của Tommy đây một trong những người phụ nữ chất phác nhất mà anh gặp. Bà có một khuôn mặt bằng phẳng, mặt giống cái bánh ngọt tṛn, hai hố mắt rộng h́nh như có những màu khác nhau không thể có, một con màu xanh và một con nâu, một cái trán cao với một mớ tóc dày xoă xuống hoang dại. Bà mặc một áo choàng ngoài màu tím với những mảng lớn đất sét dính trên áo, và Tommy để ư đến bàn tay giữ cánh cửa mở là một kiến trúc tuyệt đẹp.

- Ô, bà nói. Giọng bà trầm và khá quyến rũ. Chuyện ǵ thế? Tôi bận.

- Bà Boscowan?

- Phải, ông muốn ǵ?

- Tên tôi là Beresfold. Tôi tự hỏi xem có thể nói chuyện với bà vài phút được không.

- Tôi không biết. Thật sao, ông phải nói chuyện à? Cái ǵ kia - có vẻ là một bức tranh? Mắt bà nh́n cái gói anh kẹp dưới cánh tay.

- Phải. Đó là cái có dính líu tới tranh của chồng bà.

- Ông muốn bán nó sao? Tôi c̣n nhiều tranh. Tôi không muốn mua nữa. Xin mang tới những gallerie. Bây giờ họ bắt đầu mua lại tranh của ông ấy. Có vẻ như ông không cần bán tranh mà.

- Ồ không, tôi không muốn bán chi cả.

Tommy cảm thấy khó khăn cực độ khi nói chuyện với người phụ nữ này. Mắt bà, mặc dù không có ǵ sánh kịp, là cặp mắt rất đẹp bây giờ qua vai anh đang nh́n xuống đường với vẻ chú ư ḱ dị một cái ǵ đó từ khoảng xa.

- Xin làm ơn, Tommy nói. Tôi mong bà để tôi vào. Quá khó giải thích.

- Nếu ông là hoạ sĩ tôi không muốn nói chuyện với ông, bà Boscowan nói. Tôi luôn chán ngấy những hoạ sĩ.

- Tôi không phải là một hoạ sĩ.

- Anh không có vẻ là một hoạ sĩ, chắc rồi. Mắt bà quét lên người anh từ trên xuống dưới. Anh có vẻ giống một công chức hơn. Bà nói không phấn khởi ǵ.

- Tôi có thể vào nhà không, bà Boscowan?

- Tôi không chắc. Hăy đợi đă.

Bà đưa anh đến lối đi từ cửa vào nhà, lên một cầu thang hẹp vào pḥng vẽ. Trong một góc có một h́nh tượng và nhiều dụng cụ khác nhau đứng bên cạnh. Những cái búa cái chàng. Cũng có một đống đất sét. Toàn thể khung cảnh có vẻ như là vừa bị một nhóm côn đồ vào tàn phá.

- Ở đây không bao giờ có chỗ ngồi đâu. Bà Boscowan nói.

Bà ném nhiều món đồ khác nhau từ một cái ghế đẩu có chân cao và đẩy nó về phía anh.

- Đó. Ngồi xuống và nói chuyện với tôi đi.

- Bà thật tử tế đă để tôi vào.

- Một phần nào thôi, nhưng ông có vẻ lo lắng. Ông lo lắng về một điều ǵ đó, phải không?

- Vâng tôi lo.

- Tôi nghĩ vậy. Ông lo chuyện ǵ vậy?

- Vợ tôi, Tommy đáp, ngạc nhiên về câu trả lời của ḿnh.

- Ồ, lo cho vợ ông ư? Có cái ǵ bất thường trong đó thế. Đàn ông luôn luôn lo cho vợ họ. Có chuyện ǵ thế - có phải cô ấy đi với ai đó hay chỉ quan trọng hoá vấn đề thôi?

- Không, không có chi như thế cả.

- Đang hấp hối? Ung thư?

- Không, Tommy đáp. Chỉ là tôi không biết cô ấy hiện ở đâu.

- Và ông nghĩ tôi có thể biết? Tốt hơn ông nên nói với tôi tên cô và cái ǵ đó về cô nếu ông  nghĩ tôi có thể t́m cô cho ông. Tôi không chắc, ông nhớ cho, bà Boscowan nói, về điều tôi muốn làm. Tôi báo cho ông biết trước.

- Cám ơn, Tommy nói, bà dễ nói chuyện hơn tôi nghĩ về bà trước đây.

- Bức tranh liên hệ với cái ǵ? đó là một bức tranh, phải không, h́nh dáng ấy.

Tommy tháo cái gói.

- Đó là một bức tranh chồng bà kí tên, Tommy nói. Tôi muốn bà nói cho tôi cái bà có thể biết về nó.

- Tôi hiểu. Chính xác ông muốn nói về cái ǵ?

- Khi nào nó được sơn và vẽ ở đâu.

Bà Boscowan nh́n ông và lần đầu tiên trong mắt bà có một nét chú tâm nhẹ nhàng.

- Cái đó không khó, bà nói. Vâng, tôi có thể nói với ông về bức tranh. Nó được vẽ cách đây mười lăm năm - không, nhiều hơn tôi nghĩ ra. Nó là một trong những bức vẽ đầu tiên đẹp nhất của ông ấy. Cách đây hai mươi năm rồi, tôi dám nói thế.

- Bà biết nó ở đâu - tôi muốn nói chỗ vẽ ấy?

- Ồ vâng, tôi có thể nhớ rất rơ. Tranh đẹp. Tôi luôn luôn yêu nó. Đó là chiếc cầu nhỏ với một mái h́nh ṿm cung và ngôi nhà và địa điểm là Sutton Chancellor. Cách chợ Basing chừng tám dặm. Từ Sutton Chancellor nhà cách hai dặm đường. Rất đẹp. Chỗ hẻo lánh.

Bà bước tới bức tranh, cúi xuống nh́n chăm kĩ một lúc. Thật không thể tin được. Bà nói. Phải, rất ḱ dị. Bây giờ tôi ngạc nhiên.

Tommy không mấy chú ư.

- Tên ngôi nhà là ǵ?

- Tôi thật sự không thể nhớ. Ông biết mà, nó được đặt lại tên. Nhiều lần. Tôi không biết có cái ǵ về nó. Có đôi sự việc bi kịch xảy ra ở đó, tôi nghĩ vậy, rồi người khác đến đặt tên lại. Một lần gọi là Ngôi nhà Con kênh, hay Bên kênh. Một lần nó được gọi là Nhà bên cầu rồi Meadowside - hay Bên sông là cái tên khác.

- Ai sống ở đó - hay bây giờ ai sống ở đó? Bà biết không?

- Tôi không biết ai cả. Lần đầu tiên tôi thấy có một ông và cô gái sống ở đó. Thường xuống hàng tuần. Tôi nghĩ họ không lấy nhau. Cô gái là một vũ công. Có lẽ là một  nghệ sĩ - không, tôi nghĩ cô ấy là một vũ công. Vũ ba lê. Khá đẹp nhưng hơi ngốc nghếch. Chấc phác, hầu như nghèo. Wiliam hoàn toàn mềm yếu trước cô ấy, tôi nhớ như thế.

- Ông ấy có vẽ cô không?

- Không. Ông không thường vẽ người. Ông thường nói đôi khi ông muốn vẽ một bản phác thảo về người, nhưng không bao giờ ông vẽ nhiều. Ông luôn luôn điên về những cô gái.

- Họ là những người ở đó khi chồng bà vẽ ngôi nhà sao?

- Phải, tôi nghĩ vậy. Dù sao chỉ một phần thời gian thôi. Họ chỉ xuống vào cuối tuần. Rồi căi nhau. Tôi nghĩ, họ bất ḥa, hay là ông ta đi xa bỏ cô lại hoặc cô ấy đi bỏ ông ấy lại. Tự ḿnh tôi không xuống đó. Tại Coventry tôi đang hoạt động rồi lập thành một nhóm. Sau hết tôi nghĩ chỉ có một gia sư và đứa trẻ trong nhà. Tôi không biết đứa trẻ và cô đến từ đâu nhưng tôi cho rằng người gia sư chăm sóc cô ấy. Rồi tôi nghĩ có chuyện ǵ đó xảy ra với đứa trẻ. Hoặc bà gia sư mang con bé đi nơi nào đó hay đứa trẻ chết. Ông muốn biết cái ǵ về người sống trong ngôi nhà đó cách đây hai mươi năm sao? Với tôi th́ hơi ngớ ngẩn.

- Tôi muốn nghe bất cứ điều ǵ tôi có thể nghe về căn nhà đó. Cô ấy bảo cô thấy ngôi nhà từ một chuyến tàu.

- Chính xác, bà Boscowan nói, hệ thống đường rầy xe lửa chỉ chạy bên kia chiếc cầu. Từ đó ông có thể nh́n thấy ngôi nhà rất rơ, tôi hi vọng thế. Rồi bà nói, Tại sao cô ấy lại muốn t́m hiểu ngôi nhà?

Tommy giải thích ngắn gọn - bà ta nh́n ông nghi ngờ.

- Ông không từ nhà thương điên ra chứ? Bằng lời hay bằng cái ǵ khác, bất kể thế nào người ta cũng gọi thế.

- Tôi giả thiết tôi phải vọng âm một chút như thế, nhưng thật sự  hoàn toàn đơn giản. Vợ tôi muốn t́m hiểu ngôi nhà v́ vậy cô ấy thử dùng nhiều cuộc hành tŕnh khác nhau bằng xe lửa để t́m hiểu coi cô đă thấy ngôi nhà ở đâu. Tôi nghĩ cô ấy đă t́m ra. Tôi nghĩ cô đă đến chỗ này - Sutton Chancellor?

- Sutton Chancellor, vâng. Thường th́ một chỗ rất tầm thường. Tất nhiên bây giờ có thể mở rộng hơn thậm chí đă thành một thị trấn rồi.

- Tôi mong có thể vậy. Cô gọi điện nói cô sẽ trở về nhưng cô không về. Tôi muốn biết chuyện ǵ đă xảy ra với cô. Tôi nghĩ cô ấy đi khởi sự điều tra căn nhà ấy và có lẽ - có lẽ cô đă gặp nguy hiểm.

- Nguy hiểm về cái ǵ chứ?

- Tôi không biết. Không ai trong chúng tôi biết cả. Tôi thậm chí không nghĩ không thể có bất ḱ sự nguy hiểm nào trong chuyện đó, nhưng vợ tôi biết.

- Khả năng ngoại cảm à?

- Có thể. Cô ấy hơi thế thật. Cô có những linh tính. Bà không bao giờ nghe hay biết một bà Lancaster nào đó cách đây hai mươi năm à hay cách đây một tháng?

- Bà Lancaster ư? Không, tôi không nghĩ vậy. Loại tên người ta có thể nhớ lại, có thể không. bà Lancaster thế nào?

- Bà là người chủ bức tranh. Bà ấy thân thiện tặng cho bà d́ của tôi. Rồi th́nh ĺnh bà ấy rời nhà điều dưỡng. Bà con của bà đem bà đi xa. Tôi cố gắng theo dấu cô nhưng không dễ dàng ǵ.

- Ai là người có óc tưởng tượng, ông hay vợ ông? H́nh như ông đă nghĩ nhiều chuyện và trong tâm trạng lo lắng, nếu tôi có thể nói như vậy.

- Vâng, bà có thể nói thế. Trong tâm trạng khá lo lắng và tuyệt đối không về cái ǵ cả. Đó là những ǵ bà muốn nói, phải không? Tôi thiết tưởng bà cũng có lí.

- Không, bà Boscowan. Giọng cô thay đổi nhẹ nhàng. Tôi không nói về cái không có.

Tommy nh́n bà ḍ hỏi.

- Có một việc ḱ dị về bức tranh này. Rất ḱ dị. Tôi nhớ khá rơ. Tôi nhớ hầu hết tranh của William mặc dù ông vẽ nhiều.

- Bà có nhớ nó được bán cho ai không, nếu được bán?

- Không, tôi không nhớ. Phải, tôi nghĩ nó được bán. Có một đợt triển lăm tranh ông bán sạch. Chúng trở lại ba bốn năm trước bức này và hai năm sau bức này. Khá nhiều tranh được bán. Hầu như bán hết. Nhưng bây giờ tôi không thể nhớ nó bán cho ai. Tranh ông được hỏi quá nhiều.

- Tôi rất cám ơn bà về tất cả điều bà nhớ.

- Ông đă không hỏi tôi tại sao tôi nói có một cái ḱ dị về bức tranh. Bức tranh ông mang đến đây.

- Bà muốn nói nó không phải của chồng bà - một người nào đó đă vẽ?

- Ô không. Đó là bức tranh William vẽ.” Nhà bên con kênh,” tôi nghĩ đó là tên ông đặt trong danh mục. Nhưng có vẻ không phải như vậy. Ông thấy đó, có một cái ǵ đó sai lầm.

- Sai lầm ǵ?

Bà Boscowan đưa một ngón tay c̣n dính đất sét và thọc mạnh một điểm ngay chính bên dưới chiếc cầu bắt qua con kênh.

- Ḱa, bà nói. Ông thấy chứ? Có một chiếc thuyền nhỏ cột bên dưới chiếc cầu, phải không?

- Phải, Tommy bối rối.

- Chiếc thuyền không có đó, lần cuối cùng khi tôi xem tranh không có. William không bao giờ vẽ chiếc thuyền ấy. Khi được triễn lăm KHÔNG BAO GIỜ CÓ CHIẾC CẦU.

- Bà muốn nói một người nào đó không phải chồng bà sau đó đă sơn chiếc thuyền vào đây?

- Vâng. Ḱ dị, phải không nào? Tôi tự hỏi tại sao? Đầu tiên nh́n thấy chiếc thuyền ở đó tôi ngạc nhiên, một nơi không hề neo thuyền, rồi tôi có thể hiểu khá rơ William không bao giờ vẽ thuyền. Dù bất cứ lúc nào ông cũng không vẽ. Một ai khác đă vẽ. Tôi tự hỏi là ai?

Bà nh́n Tommy.

- Và tôi ngạc nhiên tại sao?

Tommy không đưa ra kết luận. Anh  nh́n bà Boscowan. D́ Ada sẽ gọi bà là một phụ nữ hơi điên c̣n Tommy không nh́n bà dưới ánh sáng đó. Bà ta mơ hồ, với cách nhanh chóng nhảy từ vấn đề nọ sang vấn đề kia. Những việc bà nói h́nh như rất ít liên can đến sự việc cuối cùng bà mới nói cách đây một phút. Tommy nghĩ, bà là hạng người có thể biết nhiều chuyện hơn cái điều bà tiết lộ. Bà có yêu chồng không hay ganh ghét với chồng hoặc coi thường chồng? Trong cử chỉ hay thật ra những lời nói của bà ta   dù bất cứ cách nào cũng không có đầu mối. Nhưng anh có cảm tưởng chiếc thuyền nhỏ vẽ bên dưới chiếc cầu là nguyên do của nỗi bất an đó. Bà không thích chiếc thuyền được cột ở đó. Th́nh ĺnh anh nghĩ nếu lời phát biểu của bà là sự thật. Những năm về sau bà có thật sự nhớ lại như là Boscowan có vẽ một chiếc thuyền bên dưới chiếc cầu hay không? thật sự dường như đó là một chi tiết không quan trọng. Nếu chỉ cách đây một năm khi lần cuối cùng bà nh́n thấy bức tranh - nhưng rơ ràng đó là một thời gian c̣n lâu hơn thế. Và điều ấy làm bà Boscowan bất ổn. Anh nh́n bà một lần nữa và thấy bà đang nh́n anh. Đôi mắt ṭ ṃ của bà ngừng lại trên anh không có tính đối kháng, mà chỉ trầm tư mặc tưởng. Rất, rất trầm tư.

- Ông sẽ làm ǵ bây giờ? Bà nói.

Ít ra điều đó cũng dễ dàng. Tommy không khó khăn ǵ trong việc biết những điều ḿnh sẽ nói.

- Tối nay tôi sẽ về nhà - xem có tin ǵ của vợ tôi không - vài lời từ cô ấy. Nếu không, ngày mai tôi sẽ lại chỗ này, Sutton Chancellor. Hi vọng tôi có thể t́m thấy vợ tôi ở đó.

- Cái ấy c̣n tuỳ. Bà Boscowan nói.

- C̣n tùy cái ǵ chứ? Tommy hỏi giọng sắc bén.

Bà Boscowan cau mày. Rồi bà th́ thầm, tôi hi vọng cô ấy b́nh an..

- Tại sao cô không được b́nh an? Nói cho tôi hay, bà Boscowan, có cái ǵ lầm lẫn ở chỗ đó sao - với Sutton Chancellor?

- Với Sutton Chancellor? Với cái chỗ ấy? Bà suy nghĩ. Không, tôi không nghĩ vậy. Không phải với CHỖ ĐÓ.

- Tôi thiết nghĩ tôi muốn nói căn nhà, căn nhà bên con kênh. Không phải làng Sutton Chancellor.

- Ô, căn nhà ư, bà Boscowan nói, thật ra đó là một căn nhà đẹp. Có nghĩa dành cho những người yêu nhau, ông biết đấy.

- Những t́nh nhân sống ở đấy sao?

- Đôi khi. Thật sự không thường xuyên. Nếu một căn nhà được xây cho những người t́nh, nó phải được những người t́nh cư ngụ.

- Không dựng lên cho một số người để một ai đó xử dụng ư.

- Ông nhanh cực ḱ. Ông hiểu điều tôi muốn nói, phải không nào? Ông không được dựng một ngôi nhà để dành cho một việc lại được sử dụng không đúng chỗ. Tôi sẽ không thích nếu ông làm thế.

- Trong những năm sau này bà có biết ǵ về số người sống ở đó không?

Bà ta lắc đầu. Không, không, tôi không biết chi về ngôi nhà hết. Ông hiểu cho, điều đó không bao giờ quan trọng với tôi cả.

- Nhưng bà đang nghĩ về một cái ǵ - không, một người nào?

- Phải, bà Boscowan đáp. Tôi cho rằng về điều này ông có lí. Tôi đang nghĩ đến - một người nào đó.

- Bà có thể nói cho tôi biết về người mà bà đang nghĩ?

- Thật sự không có ǵ để nói cả, đôi khi, ông cũng rơ mà, người ta chỉ tự hỏi một người hiện ở đâu. Có chi xảy đến cho họ hay họ có thể ra sao - suy rộng ra mà. Có một loại linh cảm - bà vẫy tay - ông có cần một con cá trích hun khói không? Bất ngờ bà hỏi.

- Một con cá trích hun khói à? Tommy giật ḿnh.

- Tôi t́nh cờ có hai ba con cá trích ở đây. Tôi nghĩ có lẽ ông cần ăn một cái ǵ đó trước khi ông bắt kịp xe lửa. Nhà ga là Waterloo, bà nói. Về Sutton Chancellor, tôi muốn nói nơi ấy. Ông thường phải đổi tàu tại chợ Basing. Tôi hi vọng ông sẽ làm vậy.

Đó là một lời đuổi khách. Anh chấp nhận.

 


 

13.ALBERT CÓ ĐẦU MỐI

 

Tuppence nhấp nháy mắt. Quang cảnh dường như hơi lờ mờ. Cô cố gắng nhấc đầu khỏi gối nhưng lại nhăn mặt khi sự đau đớn xuyên qua đầu, và để rơi đầu xuống gối lần nữa. Cô khép mắt. Lập tức cô mở mắt ra và nhấp nháy mắt lần nữa.

Với cảm giác đau đớn cô nhận ra những vật xung quanh.” Ḿnh đang ở trong một pḥng bệnh,” Tuppence nghĩ. Thoả măn với t́nh trạng tinh thần chỉ tiến triển đến mức ấy, cô không cố gắng dùng trí óc suy luận nữa. Cô ở trong một pḥng bệnh và đầu cô đau. Tại sao lại đau, tại sao cô ở trong một pḥng bệnh, cô không hoàn toàn chắc. ‘ tai nạn?’ Tuppence nghĩ.

Nhiều y tá đi lại xung quanh giường. Điều này dường như khá b́nh thường. Cô khép mắt và cố thử một ít suy nghĩ thận trọng. Một cảnh lờ mờ về một bóng người già nua trong bộ áo chùng thâm, t́nh cờ đi qua bức màn trí nhớ. ‘ Cha?’ Tuppence nghi ngờ nói thầm. ‘ Có phải cha không?’ Cô không thể thật sự nhớ. Cô giả thiết vậy thôi.

“ Nhưng ta làm ǵ để bị ốm trong một bệnh viện chứ?” Tuppence nghĩ. “ta muốn nói, ta điều dưỡng trong một bệnh viện, vậy ta phải mặc  đồng phục. Đồng phục V.A.D. Trời ơi,” Tuppence nói.

Ngay sau đó một y tá xuất hiện gần giường cô.

Bây giờ cảm thấy khoẻ hơn chứ? Y tá nói với giọng vui vẻ giả tạo. Tốt rồi, phải không?

Tuppence không hoàn ṭan chắc điều đó là Tốt. Người y tá nói cái ǵ về một tách trà.

-  Dường như ḿnh là một bịnh nhân, Tuppence nói hơi bất măn về chính ḿnh. Cô nằm đó bất động, cố phục hồi lại trong trí nhớ nhiều tư tưởng và từ khác nhau.

-  Lính, V.A.D. Tất nhiên. Ḿnh là một V.A.D.

Người y tá mang trà vào trong thứ cốc cho ăn và giúp cô trong khi cô nhấp trà. Sự đau đớn xuyên qua đầu lần nữa. ‘ Một V.A.D. đó là những ǵ ta là’ Tuppence nói lớn.

Người y tá nh́n cô không hiểu.

- Đầu tôi đau, Tuppence nói, thêm vào một phát biểu sự kiện.

- Sẽ tốt ngay thôi mà.

Cô lấy lại tách cho ăn, thuật lại với một nữ y tá trưởng khi bà đi ngang. ‘ Số 14 tỉnh rồi. Cô ấy hơi rệu ră, tôi nghĩ thế.

- Cô ấy nói ǵ thế?

- Nói cô là một V.I.P, người y tá nói.

Nữ y tá trưởng khịt mũi cái đó là điều cô vẫn cảm thấy về những bệnh nhân không quan trọng họ tự cho ḿnh là V.I.P.

Chúng ta nên xem xét về cái đó, nữ y tá trưởng nói. Mau lên, y tá, đừng suốt ngày với cái tách cho ăn ấy nữa.

Tuppence vẫn c̣n ngủ gà gật trên gối. Cô vẫn chưa vượt qua t́nh trạng những ư tướng vụt nhanh qua trí nhớ như một đám rước vô tổ chức.

Có một người nào đó phải ở đây chứ, cô cảm thấy thế, một người nào đó cô hoàn toàn biết rơ. Có một cái ǵ rất xa lạ về bệnh viện này. Không phải bệnh viện cô nhớ. Không phải bệnh viện cô làm điều dưỡng.” Tất cả đều là lính. Khoa giải phẫu bệnh, ḿnh làm bên dăy A và dăy B. Cô mở mắt và nh́n quanh. Cô tự quyết đó không phải là một bệnh viện trước kia cô đă thấy và càng không liên hệ chi tới việc điều dưỡng những trường hợp giải phẫu cả, quân đội hay cái ǵ khác.

- Ḿnh tự hỏi đây là đâu. Chỗ nào? Cô cố gắng nghĩ cái tên một chỗ nào đó. Chỉ có những chỗ cô có thể nghĩ ra là London và Southampton.

Người nữ y tá trưởng tái xuất hiện bên giường.

- Cảm thấy khoẻ hơn chứ, tôi hi vọng thế.

- Tôi khỏe rồi, Tuppence đáp. Có chuyện ǵ với tôi thế?

- Cô bị thương ở đầu. Tôi hi vọng cô thấy bớt đau hơn, phải không?

- Vẫn c̣n đau. Tôi ở đâu vậy?

- Bệnh viện Hoàng gia Basing. Nó không có  nghĩa ǵ với cô cả.

- Một vị cha cố. Cô nói .

- Xin lỗi?

- Chúng tôi không thể viết tên cô trên tờ giấy ăn kiêng được, nữa y ta trửơng nói.

Cô cầm cây bút may Biro sẵn sàng và nh́n Tuppence ḍ hỏi.

- Tên tôi? 

- Phải, cô ta đáp. Để ghi lại, cô nói thêm tràn đầy hi vọng.

Tuppence im lặng, suy  nghĩ. Tên cô. Tên cô là ǵ?” điên làm sao, dường như ḿnh đă quên nó rồi. Tuy nhiên ḿnh phải có một cái tên. Th́nh ĺnh một cảm giác nhẹ nhơm yếu ớt chợt đến. Khuôn mặt của vị cha cố già bất ngờ bùng sáng lên qua trí nhớ và cô hạ quyết định.” Tất nhiên rồi, Tuppence.”

- P-r-u-e-n-c-e.

- Phải, Prudence.

- Đó là tên thánh của cô. C̣n họ?

- Cowley. C-o-w-l-e-y.

- Rất vui là đă nói thật. Cô ta nói, và đi ra với vẻ của một người mà bản ghi của họ không c̣n làm cho cô lo lắng nữa.

Tuppence cảm thấy mơ hồ vui. Pruden Cowley. Pruden Cowley trong V.A.D. và cha cô là một cha cố - Tại một giáo xứ thời chiến tranh và..”không thể tin được,” ‘ ḿnh dường như làm chuyện này hoàn toàn sai lầm. Dường như với ḿnh tất cả đă xảy ra cách đây lâu lắm rồi.’ Cô th́ thầm.. ‘ Có phải là đứa con tội nghiệp của cô không?’ cô tự hỏi. Có phải cô vừa nói điều đó hay một kẻ nào khác đă nói?

Nữ y tá trưởng trở vào lần nữa.

- Địa chỉ của cô, cô nói, Cô - Cô Cowley, hay bà Cowley? Có phải cô hỏi về một đứa trẻ không?

- Có phải đứa con tội nghiệp của cô không? có một người nào đó nói với tôi hay tôi đang nói với họ?

- Tôi nghĩ bây giờ cô nên ngủ một chút nếu tôi là cô, cô thân mến ạ.

- Cô đi ra và đem thông tin cô đă kiếm được đến chỗ thích hợp.

- Dường như cô ấy đă hồi sức, thưa bác sĩ. Cô nhận xét, và cô nói tên cô là Prudence Cowley. Nhưng h́nh cô không nhớ tên cô. Cô nói cái ǵ đó về một đứa trẻ.

- Tốt, bác sĩ nói, với vẻ thờ ơ thường lệ. Chúng ta sẽ cho cô hai mươi bốn giờ. Cô ta đang hồi phục tốt từ sự chấn thương sọ năo.

 

2

Tommy ḍ dẫm với ch́a khoá cửa rập ngoài. Trước khi anh có thể xử dụng nó cửa mở ra và Abert đứng trong lề cửa mở rộng.

- Cô đă về chưa?

Albert chậm chạp lắc đầu.

- Không lời nào từ cô, không thư điện thoại, không thư viết - không điện tín?

- Tuyệt đối không có ǵ để tôi kể với ông cả, thưa ông. Và không có ǵ từ bất cứ ai khác. Chúng đang trốn tránh - nhưng chúng bắt cô. Đó là những ǵ tôi nghĩ. Chúng đă bắt cô.

- Mày nói cái qủy ǵ thế - chúng bắt cô? Tommy hỏi. Những chuyện mày đọc. Ai bắt cô?

- Ông hiểu điều tôi nói mà. Bọn băng nhóm.

- Băng nhóm nào chứ?

- Một trong những băng nhóm có thể múa dao. Hay một tổ chức quốc tế.

- Ngừng nói điều rác rưởi đó lại. Mày biết tao nghĩ ǵ không hả?

Albert nh́n ông ḍ hỏi.

- Tao nghĩ thật thiếu thận trọng việc cô mày không hề gởi một lời hay cái ǵ đó cho chúng ta.

- Ô, con hiểu điều ông nói. Con cho rằng ông Có Thể nói thế. Nếu nói ra làm ông hạnh phúc. Hắn thêm vào khá bất hạnh. Hắn lấy cái gói từ tay Tommy. Con biết ông lại mang cái này về.

- Phải, tao mang bức tranh vấy máu ấy về, Tommy đáp. Không ích lợi ǵ.

- Ông đă không biết thêm cái ǵ từ đó sao?

- Không hoàn toàn như thế. Tao Có biết đôi điều nhưng như là cái tao biết có ích với tao không th́ tao chịu. Dr. Murray không gọi điện sao, tao tưởng thế, hay cô Packard từ nhà Điều Dưỡng Sunny Ridge? Không có tin ǵ à?

- Không ai gọi điện trừ ông chủ cửa hàng thực phẩm bảo ông có bắp cà tím. Ông biết cô chủ thích cà tím. Ông luôn luôn cho cô hay. Nhưng tôi bảo ông cô bây giờ không có thể ăn được. Anh ta nói thêm. Tôi có làm con gà ăn tối.

- Thật ḱ là mày không bao giờ có thể nghĩ ra cái ǵ khác ngoài những con gà. Tommy nói vẻ cau có.

- Lần này đó là cái họ gọi Gà Mới Nở. Đầy xương.

- Ừa.

Điện thoại reo vang. Trong nháy mắt Tommy nhảy ra khỏi chỗ ngồi và nhào đến chỗ để máy.

- Alô... Alô?

  Một  giọng nói vang yếu ớt từ đàng xa. Ông Thomas Beresfold? Ông có thể nhận một cú gọi cá nhân từ Invergashly?

- Vâng.

- Xin vui ḷng giữ máy.

Tommy đợi. Sự kích động của ông bây giờ dịu xuống. Ông phải đợi một lúc. Rồi một giọng nói ông biết, rơ ràng và kiên quyết, vang lên. Tiếng nói của con gái ông.

- Hello, có phải cha đó không? Cha?

- Deborah!

- Vâng. Tại sao giọng cha như đứt hơi thế, cha vừa mới chạy sao?

Những đứa con gái, Tommy nghĩ, luôn luôn b́nh phẩm.

- Ở tuổi cha th́ hơi kḥ khè một chút. Con khoẻ không, Deborah?

- Ô, con ổn thôi, nh́n đây, Cha, con thấy một cái ǵ đó trong báo. Có lẽ cha cũng thấy nữa. Con ngạc nhiên về nó. Một cái ǵ về một người bị tai nạn trong bệnh viện.

- Sao? Cha không nghĩ cha thấy cái ǵ hết. Cha muốn nói, trong chừng mức nào đó không để ư. Tại sao?

- Nó - nó vang âm quá xấu. Con giả thiết đó là một tai nạn xe hay cái ǵ đó như thế. Nó nhắc đến người đàn bà đó - bất kể là ai - cho biết tên là Prudence Cowley nhưng không thể t́m ra địa chỉ của ḿnh.

- Pruden Cowley? Con muốn nói -

- Vâng. Con chỉ - con chỉ ngạc nhiên. Đó là tên của Mẹ, phải không? con muốn nói đó là tên mẹ.

- Tất nhiên rồi.

- Con luôn luôn quên cái tên Prudence. Con muốn nói chúng ta không bao giờ nghĩ tên me là Prudence, cha và con, hay là Derek.

- Không, Tommy nói. Đó không phải loại tên thánh gắn liền với mẹ con.

- Không, con biết không phải. Con chỉ nghĩ đó là - khá ḱ dị. Cha không nghĩ đó có thể là một số bà con của mẹ sao?

- Cha c